le huy hoÀng (t6ng chù biên kiêm chù biên) Ðangth! thu - nguyÉn 6hóng sõn pham sõn -vÖth! nhu uyÊn cong nghÊ 10 thiÉt kÉvÀ cong nghÊ
Vay Tiền Nhanh Ggads. Từ sau 1986, sự đổi mới tư duy nghệ thuật, sự mở rộng phạm trù thẩm mĩ trong văn học khiến truyện ngắn không những đa dạng về đề tài, phong phú về nội dung mà còn có nhiều thể nghiệm, cách tân về thi pháp. Mỗi nhà văn đều lí giải cuộc sống từ một góc nhìn riêng, với những cách xử lí ngôn ngữ riêng. Hệ quả tất yếu là truyện ngắn Việt đương đại đã gặt hái được nhiều thành công trên nhiều phương diện, trong đó không thể không kể đến ngôn ngữ trần thuật. Trong tác phẩm tự sự, trần thuật là thành phần lời của tác giả, của người trần thuật…1. Ngôn ngữ trần thuật do vậy là nơi bộc lộ rõ ý thức sử dụng ngôn ngữ có chủ ý của nhà văn. Khảo sát ngôn ngữ trần thuật đặc biệt là những tính chất thường gặp của ngôn ngữ truyện ngắn hiện đại trong lời người trần thuật chúng tôi hi vọng sẽ góp phần nhận diện những đặc điểm cơ bản của ngôn ngữ truyện ngắn đương đại. 1. Tính chất hiện đại trong ngôn ngữ trần thuật Thu hẹp khoảng cách giữa truyện kể và những “chuyện” của hiện thực, ngôn ngữ trần thuật trong truyện ngắn đương đại trở nên gần với ngôn ngữ đời sống hơn bao giờ hết. Ngôn ngữ trần thuật trong truyện ngắn không còn là lời nói quyền uy, cao đạo. Bên cạnh khẩu ngữ trong truyện ngắn Phan Thị Vàng Anh có thứ ngôn ngữ vỉa hè ở tác phẩm Phạm Thị Hoài. Có lời người trần thuật dân dã trong truyện ngắn Sương Nguyệt Minh đi năm lần bảy lượt, mời mẻ bát gẫy đũa…, Nguyễn Khải cười thắt ruột, ăn nói quá quân trộm cướp…, Bão Vũ nằm co tiểu sànhkhihết phim.... Có kiểu phát ngôn trần trụi, không gọt dũa của thứ ngôn ngữ “chợ búa” ở Người hùng trường làng Tạ Nguyên Thọ, Không có vua Nguyễn Huy Thiệp, Dạo đó thời chiến tranh Lê Minh Khuê… Trong một số tác phẩm, những tiếng lóng, những từ ngữ tục, những câu chửi thề… được người trần thuật sử dụng khá thường xuyên. Tuy thế, việc vận dụng thích hợp mảng ngôn từ ít có giá trị thẩm mĩ tự thân này, trong một chừng mực nhất định, vẫn có thể nâng cao hiệu quả trần thuật. Nếu trước đây thật khó hình dung cách nói không có trật tự trên dưới của những người tham gia giao tiếp, thì trong truyện ngắn đương đại, kiểu nói “xấc xược” của lớp trẻ không còn quá lạ tai. Để phê phán một mảng xã hội bộn bề, mọi chuẩn mực đạo đức bị đảo lộn, nhiều cây bút đã không ngại sử dụng thứ ngôn ngữ trần thuật “thiếu văn hóa”. Ở Làng xi măng Lê Minh Khuê, giả sử không có lời chú thích của người trần thuật, hẳn không nhiều độc giả “dịch” được bức điện tín Bà mõm, Thối rồi. Về ngay! bà ốm, mất rồi, về ngay. Kiểu thông báo có tính chất mệnh lệnh với ngôn từ ít trang trọng vẫn có thể là lời của con cái dành cho bậc sinh thành Bao giờ ổn định con sẽ “cẩu” mẹ ra khỏi cái “làng Vũ Đại” Gió đồng se sắt – Đỗ Tiến Thụy. Đoạn văn sau đây trong Đại hùng kê Hòa Vang là bằng chứng của một thứ ngôn ngữ giao tiếp đáng kinh hãi xuất hiện đậm đặc trong truyện ngắn hôm nay Phéng mẹ nó một nhát với cái lão “hâm đơ” viêm màng túi mãn tính cùng đời ấy cho xong phắt đi… Chị mới sắp bốn mươi cái lơ thơ tơ liễu buông mành, sợ gì?… phây phây lắm, ngọt bột canh Ajinô Môtô lắm… Có một sự đối nghịch rõ rệt nếu soi xét bằng con mắt thực dụng giữa lão chồng hâm đơ và người vợ còn ngọt bột canh Ajinô Môtô lắm. Lời khuyên như thuyết phục hơn nhờ ngôn ngữ phố phường thời hiện đại. Trong hai thập niên trở lại đây, sự bùng nổ thông tin đã tác động đến ngôn ngữ đời sống và để lại dấu ấn khá rõ ở ngôn ngữ trần thuật. Từ ngữ chuyên môn trở nên phổ biến các thuật ngữ y học, tên các loại bệnh mới HIV-AIDS, viêm não Nhật Bản, sarc, dịch cúm gia cầm…; các khái niệm kinh tế tiền tệ công ty cổ phần, thị trường chứng khoán, cổ phiếu…, các ngôn từ đặc trưng thời đại kĩ thuật số, công nghệ thông tin thư điện tử, chat, truyền hình cáp, nối mạng, trực tuyến…. Những từ ngữ vốn chỉ mới xuất hiện gần đây cũng ùa vào tác phẩm cave gái làm tiền, ô-sin người giúp việc, gay người đồng tính, sếp cấp trên, víp nhân vật quan trọng… Ngôn ngữ thời đại a còng được sử dụng như những phương tiện biểu đạt mới. Xuất hiện cả dạng ngôn ngữ không dấu của người trần thuật lồng vào những đối đáp kiểu trò chuyện chat trên mạng internet Tại sao? Tình Yêu – Y Ban. Ưa chuộng tốc độ tinh thần của lối sống hiện đại, ngôn ngữ trần thuật trong truyện ngắn sau đổi mới thường ngắn gọn, đơn nghĩa nhưng chứa nhiều thông tin. Chỉ vài dòng phát ngôn, người trần thuật vẫn có thể cung cấp và bình luận nhiều sự kiện đang diễn ra trong đời sống. Chẳng hạn, bằng ngôn ngữ cập nhật lồng vào lời kể chuyện, người trần thuật ẩn tàng trong Cuộn dây Lê Minh Khuê đã tải đến người đọc những vấn đề thời sự Mùa hè năm nay trái đất phập phồng những hiểm họa. Người Ruanđa bắn giết nhau… Người châu Âu chịu cái nóng khủng khiếp… Băng tuyết xuất hiện ở Zimbambuê… Bệnh AIDS lan tràn ở Đông Á… Ngôn ngữ hiện đại đã ùa vào truyện ngắn, chi phối các phát ngôn của người trần thuật. Nói cách khác, thông qua ngôn ngữ trần thuật, truyện ngắn đương đại đã kịp thời tái hiện sinh động bức tranh xã hội hôm nay, từ phương diện lời ăn tiếng nói của con người. 2. Dấu ấn văn hóa vùng miền trong ngôn ngữ trần thuật Chịu ảnh hưởng của ngôn ngữ đời sống, ngôn ngữ trần thuật trong truyện ngắn sau 1986 bộc lộ khá rõ đặc trưng văn hóa vùng miền. Phương ngữ được sử dụng có chủ ý chứ không chỉ thuần túy do chất giọng “bản địa” của nhà văn. Người trần thuật không những “tải” nội dung truyện kể mà còn “chuyển” những giá trị văn hóa nằm sâu dưới lớp ngôn ngữ. Có vẻ đẹp bình dị của vùng sông nước Cửu Long qua bờ kênh, con rạch, những cù lao xanh… Nguyễn Ngọc Tư. Có chất Huế đặc trưng mà độc giả chỉ có thể cảm nhận qua những phát ngôn cụ thể của người trần thuật Trần Thùy Mai. Chất thâm thúy miền Bắc hay kiểu hồn hậu miền đều được bộc lộ rõ nét. Dấu hiệu nhận biết có thể chỉ là những ngôn từ nhân xưng được đưa vào tác phẩm. Đó là cách nói của người miền Trung khi nhân vật lớn tiếng chửi Tổ cha mồ tổ con mô thằng mô độc mồm độc miệng nói con tau chết. Bà Thỏn – Trần Thanh Hà; là lời chào rặt tiếng địa phương được người trần thuật kể lại rõ ràng Họ gặp nhau Chào eng! Chào ả! Ôi cụ! Ôi mự! Nghe rộn rã trên đường Quê hương – Cao Hạnh. Là ngôn ngữ thuần Nam Bộ khi người trần thuật sử dụng lời ăn tiếng nói dân dã, khắc họa cuộc sống xứ sở miệt vườn Sống trong hồn người khác Ngọc Linh, Sông Hậu xuôi về Nguyễn Lập Em, Mùa gió Trần Minh Thuận… Qua ngôn ngữ trần thuật, phong tục tập quán từng miền cũng được thể hiện rõ nét. Có đời sống du mục hay lênh đênh theo gánh hát của người miền trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư Biển người mênh mông, Cánh đồng bất tận. Có nếp sinh hoạt của người Hà Nội trong các khu phố cổ Phố cũ – Nguyễn Văn Thọ… Tuy vậy, thể hiện đậm đặc chất giọng địa phương và tạo thành một dòng văn học vùng miền chỉ có thể là mảng truyện ngắn Nam Bộ. Trong dòng truyện ngắn phương Nam ấy, Nguyễn Ngọc Tư được xem là một tác giả tiêu biểu với nhiều tác phẩm hay Dòng nhớ, Biển người mênh mông, Qua cầu nhớ người, Hiu hiu gió bấc… Đến với văn Ngọc Tư, độc giả có thể hình dung rất rõ về vùng đất Nam Bộ. Từ những mé đìa lục bình, đám trâm bầu, chòm quao, trái giác nấu canh chua bông súng đến cách gọi tên nhân vật anh Hai Nhớ, dì út Thu Lý, dì Tư, út Thà, Sáu Tâm… hay lời ăn tiếng nói thường ngày trời đất, đúng chóc hà, nói gì lãng xẹt vậy ta, nói chơi hoài, như vầy, chút đỉnh… đều gợi lên dáng hình thiên nhiên, con người xứ sở miền Nam. Có thể nói, với ngôn ngữ trần thuật mang đậm dấu ấn văn hóa vùng miền, truyện ngắn Việt Nam thời kì đổi mới không những nhiều dáng vẻ mà còn rất gần gũi với đời sống con người. 3. Tính chất đa thanh trong ngôn ngữ trần thuật Truyện ngắn Việt đương đại không còn mang tính chất một giọng, đơn bè, như các thời kì trước. Ngay trong bản thân các phát ngôn của người trần thuật, cùng lúc có thể có cả lời trực tiếp hay những suy tư gián tiếp của nhân vật. Khảo sát tính chất đối thoại trong ngôn ngữ trần thuật hay lời nửa trực tiếp phát ngôn đồng thời của người trần thuật và nhân vật có thể thấy rõ tính chất đa thanh của ngôn ngữ trần thuật trong truyện ngắn thời kì này. * Tính chất đối thoại trong ngôn ngữ trần thuật Đối thoại là một dạng lời phát ngôn trực tiếp, mang tính cá thể hóa cao của nhân vật khi tham gia giao tiếp. Trong truyện ngắn, hình thức đối thoại được sử dụng rộng rãi và có vai trò quan trọng trong việc biểu đạt nội dung. Có kiểu đối thoại theo hình thức phân vai, có kiểu lời thoại được nhấn mạnh nhờ những chỉ dẫn của người trần thuật nhằm giản lược hoạt động giao tiếp… Tuy nhiên, người trần thuật vẫn có thể biến lời thoại của nhân vật thành lời của bản thân. Đây là một dạng phát ngôn đặc biệt, thể hiện tính chất nhiều giọng của ngôn ngữ trần thuật trong truyện ngắn đương đại. Ở một số tác phẩm, lời nhân vật không được sắp theo thứ tự đối đáp mà đan xen trong lời người trần thuật, nhất là khi người trần thuật là nhân vật xưng tôi, vừa kể chuyện vừa tham gia giao tiếp. Nghĩa là giữa những lời đối thoại, có khi vẫn có những phát ngôn lạc khỏi giao tiếp – những phát ngôn mang tính độc thoại của người trần thuật. Ẩn trong một vai giao tiếp, người trần thuật không chỉ trực tiếp trao đổi với nhân vật mà còn dễ dàng kể chuyện. Chẳng hạn như cách nói sau trong Người ở làng pháo Nguyễn Khải Bà vợ hỏi, một cân đỗ là bao nhiêu nhỉ, một ông khách vừa cười vừa nói, buôn bán như chị là đoảng, ở nhà quê không biết giá đỗ tương còn biết cái gì, một ngàn sáu bà chủ ạ. Chỉ một câu kể mà có thể chứa cả một đoạn trao đổi giữa hai nhân vật tham gia giao tiếp. Người trần thuật đã lược bỏ hoạt động đối thoại bằng lời chỉ dẫn bà vợ hỏi, ông khách vừa cười vừa nói nhằm tạo những điểm nhấn thông tin, biến lời đối thoại thành lời kể. Lời tác giả, lời người trần thuật, lời nhân vật lẫn vào nhau, tạo nên những tranh cãi, đối đáp. Ở truyện ngắn Huệ lấy chồng kiểu lời người trần thuật đan xen với lời thoại nhân vật cũng được Nguyễn Ngọc Tư sử dụng nhằm làm tăng hiệu quả biểu đạt. Đây là lời kể xen lẫn trong những đối đáp giữa hai nhân vật Huệ và Điềm Huệ cười, người ta vậy, mầy còn nhắc làm chi a. Mà, sao bữa nay nghe gió lạnh quá chừng, gió te tái đưa tới một tiếng gà đang gáy, nghe từng giọt, từng tiếng buồn thỉu b. Bằng cách giữ nguyên lời nói của nhân vật trong câu kể, người trần thuật ở đoạn văn trên đã chuyển từ lời đối thoại sang lời độc thoại. Nếu a là lời kể của người trần thuật mệnh đề Huệ cười mang hàm ý đối thoại hướng tới đối tượng giao tiếp là Điềm mầy còn nhắc làm chi thì b đã nghiêng sang dạng độc thoại có hướng. Vẫn như đang nói với Điềm, song cái cảm giác buồn thỉu bởi gió lạnh, bởi tiếng gà te tái chỉ có thể là của riêng Huệ trước ngày xuất giá, khi bóng dáng người cũ chưa hẳn đã phôi phai… Rõ ràng, kiểu trần thuật “nhiều giọng” đã giúp độc giả thâm nhập sâu hơn vào thế giới nội tâm nhân vật. Sự chuyển đổi từ lời đối thoại sang lời kể đã làm lạ hóa kiểu trần thuật đơn âm, tiến tới một kiểu trần thuật đa giọng điệu. * Lời nửa trực tiếp Nếu lời gián tiếp là lời người trần thuật ngôi ba kể về đối tượng; lời trực tiếp là lời nhân vật được truyền đạt thông qua độc thoại và đối thoại; thì lời nửa trực tiếp là kiểu lời nói kết hợp đồng thời hai hình thức phát ngôn gián tiếp bởi người trần thuật và trực tiếp bởi nhân vật nói trên. Lời nửa trực tiếp là “lời của nhân vật có bề ngoài thuộc về tác giả về mặt chấm câu, ngữ pháp nhưng về nội dung và phong cách lại thuộc về nhân vật”2. Trong truyện kể, ngôn ngữ tác giả chủ yếu lại được thể hiện bởi ngôn ngữ người trần thuật, nên xét từ phương diện trần thuật học, có thể xem lời nửa trực tiếp là lời người trần thuật nhưng mang ngôn ngữ nhân vật xuất phát từ điểm nhìn nhân vật. Đây là kiểu “câu hàm ẩn nhiều chủ thể”, “câu lai ghép”, theo cách gọi của Bakhtin. Một trong những đặc điểm cơ bản của lời nửa trực tiếp là tính song điệu giọng người kể và giọng nhân vật lẫn vào nhau. Đây là kiểu lời nói có sự hòa trộn giữa ngôn ngữ người trần thuật ngôn ngữ tác giả và ngôn ngữ nhân vật. Đoạn văn sau là một ví dụ Lúc về Diệp ôm vai mẹ, Diệp bảo mớ khô cá sặc rằn này hôm nào mẹ tiễn con đi, mẹ nướng rồi xé trộn xoài sống, con thích món này lắm. Nước chảy mây trôi – Nguyễn Ngọc Tư. Thông điệp Diệp ôm vai mẹ, Diệp bảo thích món cá khô trộn xoài sống bao hàm cả hành động của nhân vật được người trần thuật truyền đạt lại. Lời kể này chứa đựng ngôn ngữ nói biểu cảm của nhân vật nên lời người trần thuật và lời nhân vật hoà vào nhau. Không đơn nghĩa như lời trực tiếp, lời nửa trực tiếp thường mở ra nhiều hướng tiếp nhận, trở thành kiểu lời nói đặc trưng cho ngôn ngữ trần thuật phức hợp, đa thanh. Từ sau 1986, truyện ngắn Việt hay sử dụng kiểu lời nửa trực tiếp để đến gần với cuộc sống đa chiều. Đây là phương thức trần thuật gắn với tư duy lí luận hiện đại, có hiệu quả trong việc khám phá dòng tâm trạng – phương diện bộc lộ rõ nhất tư duy phức hợp của con người. Lời nửa trực tiếp có thể cơi nới khuôn khổ truyện ngắn, giúp độc giả khám phá mạch ngầm văn bản, đi sâu vào tâm trạng, bản thể con người với những hồi cố, tự bạch, dòng ý thức lẫn trong giọng kể khách quan của người trần thuật. Về biển Phan Triều Hải, Bụt mệt Hòa Vang, Qua sông hoa Phạm Trung Khâu… là một số tác phẩm sử dụng đắc địa lời nửa trực tiếp. Đây là một đoạn văn được phát ngôn bởi người trần thuật, nhưng lại khoác lớp ngôn ngữ của nhân vật trong truyện ngắn Phan Triều Hải “Bà lẩm bẩm, “mười ba sao rét thế nhỉ”, rồi bà chợt nhớ phải có một cái gì đó để quên rét. Ừ. Quên rét cũng như quên chồng. Phải có một cái gì đó để vùi đầu vào, để tất cả lẫn lộn lên, để không gì còn định hình được nữa. Lúc ấy là quên”3 Những lá thư mùa đông. Ở đây, giọng người trần thuật và nhân vật đan cài vào nhau đến mức khó phân biệt rạch ròi ở những lời nửa trực tiếp với hai chủ thể phát ngôn đồng thời người trần thuật và nhân vật chủ thể hàm ẩn. Không đồng nhất với độc thoại nội tâm, song phần lớn lời nửa trực tiếp đều gắn với ngôn ngữ độc thoại và dòng tâm tư của nhân vật. Đó là trường hợp lời kể của người trần thuật xen lẫn trong chuỗi độc thoại của nhân vật ở Kịch bản Trần Thanh Hà, Chuyến đi săn cuối cùng Sương Nguyệt Minh, Hạnh Nguyễn Thị Minh Dậu, Con thú Dương Quốc Hải… Dòng tâm trạng nhân vật đan xen trong lời người trần thuật cũng là một biến thái khác của lời nửa trực tiếp. Nó là ý nghĩ mang ngôn ngữ bên trong của nhân vật song tồn tại như những diễn từ của người trần thuật nhân danh nhân vật. Trong Có một thời yêu Vũ Thị Hồng, sau những dẫn dắt của người trần thuật là dòng hồi ức tuôn trào của nhân vật Quá khứ như một cuốn phim quay chậm, dửng dưng, tàn nhẫn diễn ra trong óc người đàn ông a. Tất cả không sót một chút gì b. Bắt đầu từ cái buổi đi lấy gạo đáng nguyền rủa ấy chăng? c. Không, phải bắt đầu từ trận tập kích vào Gò Chùa trước đó khi cả tiểu đội ta bị xóa sổ d… Ta bắt đầu nuôi ý định chạy trốn e… Lời nửa trực tiếp ở câu b, c đã dẫn dắt độc giả từ việc nghe kể a đến việc thâm nhập vào chuỗi độc thoại của nhân vật d,e. Lời người trần thuật ngôi ba khi vừa trực tiếp kể chuyện, vừa để câu chuyện được tự bật lên thông qua dòng ý thức của nhân vật, là dạng ngôn ngữ đặc trưng của lời nửa trực tiếp. Sử dụng đặc biệt thành công lời nửa trực tiếp không thể không nhắc đến cây bút trẻ Nguyễn Ngọc Tư. Từ điểm nhìn nhân vật, mượn ngôn ngữ, giọng điệu nhân vật, người trần thuật trong nhiều tác phẩm của nhà văn nữ này đã duyên dáng kể chuyện với con mắt tinh tường của người trong cuộc. Đó là ngôn ngữ trong trẻo nhưng nhiều suy tư của Diệp ở những độc thoại nội tâm được “thốt lên” bởi người trần thuật Đâu nè, đâu phải muốn là làm, cũng phải suy nghĩ đắn đo dữ lắm. Coi lại, làm gì có chuyện con người được sống hồn nhiên như nước chảy mây trôi? Phải chọn lựa và trả giá chớ… Nước chảy mây trôi. Đó là lời nói đầy yêu thương mà người trần thuật chỉ có thể có được từ ngôn ngữ độc thoại của trái tim người mẹ Có nên nói hay không lời xưa rày má thường dạy thằng con trai lớn, rằng sống trên đời, thấy phải thì làm, mà làm cũng đừng nghĩ sẽ được đáp đền xứng đáng, vì có những thứ quý giá lắm, chẳng gì bù đắp được đâu” Qua cầu nhớ người… Ngôn ngữ trần thuật trở nên giàu sức gợi nhờ những lời nửa trực tiếp. Những câu chuyện đời người trong tác phẩm Nguyễn Ngọc Tư càng sâu sắc, lan tỏa mãi trong lòng người. Tính chất đa thanh trong ngôn ngữ trần thuật hôm nay xuất phát từ việc tổ chức đồng thời những tiếng nói khác nhau. Sự xen lẫn của lời thoại nhân vật vào lời kể và đặc biệt là hình thức lời nửa trực tiếp đã góp phần làm mới nghệ thuật kể chuyện, cho thấy ý thức sử dụng ngôn ngữ có chủ ý của các cây bút truyện ngắn đương đại. Xem thêm Một cách tiếp cận truyện ngắn Việt Nam đương đại Trong những nỗ lực cách tân, việc đổi mới ngôn ngữ trần thuật là một thành công không thể phủ nhận của truyện ngắn Việt Nam từ sau 1986. Với cách vận dụng linh hoạt ngôn ngữ đời sống, ngôn ngữ vùng miền; và nhất là với cách tổ chức đồng thời nhiều tiếng nói khác nhau, người trần thuật có vai trò quan trọng trong việc cấu trúc tác phẩm, dẫn dắt mạch truyện. Khảo sát các phát ngôn trong văn bản truyện kể, độc giả có thể phần nào hình dung dược diện mạo của người trần thuật. Hơn thế, thông qua ngôn ngữ trần thuật người đọc còn có thể nhận diện những đặc điểm cơ bản của ngôn ngữ truyện ngắn hôm nay. Thái Phan Vàng Anh 1 Lại Nguyên Ân 1999, 150 thuật ngữ văn học, NXB Đại học Quốc gia, Hà Nội, tr 338. 2 Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi 1999, Từ điển thuật ngữ văn học, NXB ĐHQG, Hà Nội. 3 Người viết nhấn mạnh.
VIỆN HÀN LÂMKHOA HỌC Xà HỘI VIỆT NAMHỌC VIỆN KHOA HỌC Xà HỘITẠ HƯƠNG TRANGPHƯƠNG THỨC TRẦN THUẬT CỦA TRUYỆN NGẮNTHẾ SỰ - ĐỜI TƯ TRONG VĂN HỌCVIỆT NAM TỪ SAU 1986Ngành Văn học Việt NamMã số 9. 22 .01 .21LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HỌCNGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC LÊ QUANG HƯNGHÀ NỘI – 2019LỜI CAM ĐOANTôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các kếtquả nêu trong luận án là trung thực, đảm bảo tính chính xác và khoa học tài liệu tham khảo, trích dẫn đều có xuất xứ rõ ràng. Tôi xin chịu hoàntoàn trách nhiệm về công trình nghiên cứu của Nội, ngày 10 tháng 11 năm 2019Tác giả luận ánTạ Hương TrangLỜI CẢM ƠNLuận án được hoàn thành, tôi muốn bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc, chânthành đến Lê Quang Hưng, người thầy hướng dẫn khoa học tận tình,luôn sẵn sàng chia sẻ quan điểm, gợi mở nhiều ý tưởng hay, mới lạ, giúp tôicó thêm nhiều tri thức lý luận và phương pháp tư duy, làm việc khoa cũng xin được gửi lời cảm ơn đến Ban giám đốc Học viện Khoahọc xã hội, phòng Quản lý Đào tạo, các thầy cô trong khoa Văn học đãthường xuyên động viên, tạo điều kiện thuận lợi trong quá trình nghiên cứucủa được bày tỏ lòng biết ơn tới Ban giám hiệu Trường Đại học HảiPhòng, Khoa Ngữ văn – Địa lí nơi tôi công tác đã giúp đỡ tôi rất nhiều về mặtthời gian để tôi hoàn thành chương trình học và luận ơn bố mẹ, những người thân trong gia đình, đồng nghiệp, bạnbè,... đã sẻ chia, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thànhluận Nội, ngày 10 tháng 11 năm 2018Tác giả luận ánTạ Hương TrangMỤC LỤCMỞ ĐẦU..................................................................................................................... 1Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU......................................... niệm chung về phương thức trần thuật trong truyện ngắn thế sự - đời tư..... hình nghiên cứu phương thức trần thuật trong văn xuôi Việt Nam từ sau1986........................................................................................................................... hình nghiên cứu phương thức trần thuật của truyện ngắn thế sự - đời tư từsau 1986..................................................................................................................... 26Chương 2 TRUYỆN NGẮN THẾ SỰ - ĐỜI TƯ TRONG SỰ VẬN ĐỘNG,PHÁT TRIỂN CỦA VĂN HỌC VIỆT NAM TỪ SAU 1986................................ tiền đề cho sự phát triển của truyện ngắn thế sự - đời tư trong văn họcViệt Nam từ sau 1986................................................................................................ quát truyện ngắn thế sự - đời tư trong nền văn xuôi Việt Nam từ sau 198656Chương 3 ĐIỂM NHÌN TRẦN THUẬT, TỔ CHỨC TÌNH HUỐNG VÀ KẾTCẤU TRONG TRUYỆN NGẮN THẾ SỰ - ĐỜI TƯ TỪ SAU 1986................... kể và điểm nhìn trần thuật.......................................................................... chức tình huống.............................................................................................. thuật tổ chức kết cấu................................................................................ 101Chương 4 NGÔN NGỮ VÀ GIỌNG ĐIỆU TRẦN THUẬT CỦA TRUYỆNNGẮN THẾ SỰ - ĐỜI TƯ TỪ SAU 1986............................................................ ngữ trần thuật........................................................................................... điệu trần thuật......................................................................................... 132KẾT LUẬN............................................................................................................ 148DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC Đà CÔNG BỐ CÓ LIÊNQUAN ĐẾN LUẬN ÁN......................................................................................... 151DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.............................................................. 152MỞ ĐẦU1. Tính cấp thiết của đề Trong quan niệm của lí thuyết tự sự học hiện đại thì tiểu thuyết làthể loại tự sự cỡ lớn, có khả năng miêu tả bức tranh hiện thực rộng lớn và sốphận của một hay nhiều người. Trong khi đó, điều làm nên nét khác biệt giữatruyện ngắn với tiểu thuyết hay những thể loại tự sự khác chính là ở chỗ dunglượng ngắn, tập trung miêu tả một sự kiện, một tình huống hoặc một khoảnhkhắc nào đó xảy ra trong cuộc đời của nhân vật. Trong loại hình văn xuôi tựsự, truyện ngắn được đánh giá là một thể loại có tính thích ứng cao với thờiđại nó tồn tại và phát triển. Trong bối cảnh của nền kinh tế thị trường nhưngày nay, truyện ngắn phù hợp với thị hiếu của độc giả bận rộn khi họ khôngcó nhiều thời gian dành cho việc nhâm nhi chiêm nghiệm một tác ưu điểm kể trên khiến cho truyện ngắn là một trong những thể loại cóthể đáp ứng được yêu cầu đòi hỏi của thời đại đổi mới, của độc giả sau chọn mốc 1986 chúng tôi không chỉ giới hạn phạm vi nghiên cứu tácphẩm mà hơn hết đó là mốc thời gian quan trọng diễn ra Đại hội VI của đầu từ đây văn nghệ thực sự được giải phóng kéo theo sự khai phóng cácthể loại khác về cả nội dung và hình thức biểu hiện. Mặt khác, đây cũng làmốc thời gian ghi nhận những cách tân đáng chú ý của các thể loại văn học,những tác phẩm truyện ngắn thực sự có giá trị cũng bắt đầu ra đời từ xuôi nói chung, truyện ngắn giai đoạn sau năm 1986 nói riêng thựcsự đã tìm được cho mình một hướng đi mới dù đầy chông gai song lại đạtđược những thành tựu đáng ghi nhận. Về nội dung, nó bắt đầu đi sâu vào thếgiới nội tâm của con người để tìm hiểu và khái quát thành tâm lí điển hình củathời đại. Những mảng như chiều sâu tâm linh, cõi vô thức hay sự cô đơn bảnthể, cô đơn nghệ sĩ... đều được nó nghiêm túc khám phá và sáng tạo. Về hìnhthức, khác với quan niệm truyền thống, truyện ngắn sau 1986 không ngừng nỗlực kiếm tìm những phương thức biểu hiện phù hợp với yêu cầu đòi hỏi của1văn học. Bên cạnh những cây bút vẫn kiên trì cách viết truyện truyền thốngthì một loạt các cây bút với ý thức tự làm mới mãnh liệt đã ra đời nhưNguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Tạ Duy Anh, Nguyễn Bình Phương... Ở một phương diện khác, khi lựa chọn đề tài này, chúng tôi căn cứvào chủ đề và cảm hứng của văn xuôi sau 1986 nổi bật lên ba khuynh hướngchính, đó là khuynh hướng sử thi, khuynh hướng thế sự - đời tư và khuynhhướng triết luận. Trong ba khuynh hướng ấy thì khuynh hướng thế sự - đời tưđược đánh giá là khuynh hướng thu hút nhiều người tham gia viết nhất, trởthành niềm say mê hứng khởi sáng tác ở nhiều cây bút truyện ngắn xuất học trước 1975 quan tâm đến nội dung “viết cái gì” của các nhàvăn. Chính vì thế mà sự tỏa bóng của “chủ nghĩa đề tài” khá rộng lớn trongvăn xuôi. Những đề tài như ca ngợi cuộc chiến vĩ đại của dân tộc, những tấmgương người tốt, việc tốt được đề cao còn những đề tài đi sâu vào miêu tả sốphận của cá nhân hay đời sống cá thể riêng biệt thì sẽ bị cấm đoán thậm chínhiều nhà văn bị treo bút trong một thời gian dài vì những gì họ viết ra khôngđúng với tinh thần của thời đại. Song sang đến giai đoạn sau 1986, nhờ lờikêu gọi của Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh mà văn học được “cởi trói”. Cảmhứng sử thi tồn tại trong suốt những năm tháng chiến tranh và một vài nămsau đổi mới đã nhường chỗ cho cảm hứng thế sự - đời tư khi con người dầntrở về với cuộc sống thường nhật. Lựa chọn cảm hứng này trong sáng tác, cácnhà văn được mặc sức khám phá thế giới muôn hình muôn vẻ với những nhândạng tồn tại trong hiện thực đó. Mặt khác, nó cũng chi phối đến các phươngdiện khác thuộc trần thuật học trong tác phẩm mà cụ thể là điểm nhìn trầnthuật, tổ chức tình huống, kết cấu, ngôn ngữ và giọng điệu... Có thể thấy đâylà một hướng đi dù không có nhiều cách tân quyết liệt về mặt hình thức nhưngđã khắc tạc trên cây cổ thụ văn chương nỗi đằm sâu của những nhà văn sốngcó trách nhiệm và nặng lòng với đời sống con Nếu như văn học giai đoạn trước năm 1975 quan tâm đến nhà văn2thể hiện nội dung gì trong sáng tác của mình, những nội dung ấy có phù hợpvới lí tưởng của thời đại hay không, có giá trị cổ vũ tinh thần và ý chí của conngười trong thời đại ấy như thế nào... thì giai đoạn từ sau 1986, cái mà vănhọc và công chúng quan tâm là nhà văn - anh đã làm mới “đứa con tinh thần”của mình như thế nào, nói một cách khác là anh đã có thêm tiếng nói, cáchnói gì. Trong xu thế đổi mới, những gì anh viết ra nếu bị coi là cũ kĩ sẽ khôngcó chỗ đứng trong lòng bạn đọc, vì thế nỗ lực cách tân và làm mới trở thànhtuyên ngôn trong sáng tác của họ. Theo đó, nghệ thuật trần thuật trong tácphẩm được đề cao hơn bao giờ hết, nó là “sự trình bày liên tục bằng lời văncác chi tiết, sự kiện, tình tiết, quan hệ, biến đổi về xung đột và nhân vật mộtcách cụ thể, hấp dẫn, theo một cách nhìn, cách cảm nhất định” Trần ĐìnhSử. Trong cấu trúc tác phẩm văn xuôi nói chung, truyện ngắn nói riêng thìtrần thuật bao gồm các yếu tố cấu thành nên một tác phẩm hoàn chỉnh, đồngthời cũng tạo nên một “chất” khác lạ để phân biệt sáng tác của người này vớingười khác, góp phần tạo nên cái “tầm” của nhà văn. Nhà văn nếu lựa chọnhình thức trần thuật phù hợp sẽ đem lại hiệu quả trong cách truyền tải nộidung, tư tưởng của tác những lí do trên, tìm hiểu Phương thức trần thuật của truyện ngắnthế sự - đời tư trong văn học Việt Nam từ sau 1986 chính là một cách để phântích, đánh giá đầy đủ những đặc điểm, thành tựu của truyện ngắn Việt Namthời kì đổi mới trên các phương diện đối tượng, nội dung phản ánh và hìnhthức nghệ thuật. Bên cạnh đó chúng tôi mong muốn kết quả nghiên cứu củaluận án này sẽ là những tài liệu tham khảo có giá trị thực tiễn đối với công tácnghiên cứu và giảng dạy ở các trường đại học, cao đẳng và phổ Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận Mục đích nghiên cứuTìm hiểu, đánh giá đặc điểm phương thức trần thuật của truyện ngắnthế sự - đời tư trong văn học Việt Nam từ sau 1986 để khẳng định sự thống3nhất biện chứng giữa đối tượng, nội dung biểu hiện với phương thức thể hiệntrong thể loại truyện ngắn, khẳng định rõ thêm thành tựu của văn học ViệtNam thời kì đổi Nhiệm vụ nghiên cứuĐể đạt được mục đích trên, luận án thực hiện những nhiệm vụ cơ bản sau- Đưa ra quan niệm về truyện ngắn thế sự - đời tư từ góc nhìn của líthuyết tự sự học hiện đại, từ sự khu biệt giữa truyện ngắn thế sự - đời tư vớicác khuynh hướng truyện ngắn khác như truyện ngắn theo khuynh hướng sửthi, truyện ngắn theo khuynh hướng triết Chỉ ra những cơ sở cho sự phát triển của truyện ngắn theo khuynhhướng thế sự - đời tư, tái hiện diện mạo của truyện ngắn theo khuynh hướngnày trong văn học Việt Nam từ sau Phân tích những đặc điểm của phương thức trần thuật qua các phươngdiện như điểm nhìn trần thuật, cách tổ chức tình huống, kết Phân tích những đặc điểm của phương thức trần thuật qua ngôn ngữvà giọng điệu trần Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận Đối tượng nghiên cứuLuận án của chúng tôi tập trung nghiên cứu thể loại truyện ngắn trongvăn học Việt Nam hiện đại từ sau 1986 đến nay. Từ những khảo sát trênthực tế tác phẩm, chúng tôi phân loại truyện ngắn thành 3 khuynh hướng sửthi, thế sự - đời tư và triết luận. Cảm hứng sáng tác chủ đạo là tiêu chí đểchúng tôi phân loại truyện ngắn thành các khuynh hướng như vậy. Trong đóchúng tôi đặc biệt quan tâm tìm hiểu sự vận động và phát triển của truyệnngắn thế sự - đời tư, lí giải những đặc điểm riêng của thể tài truyện ngắn nàytrên cơ sở những lí thuyết chung về thể loại. Luận án tập trung vào phươngthức trần thuật bao gồm điểm nhìn trần thuật, tổ chức tình huống, kết cấu,ngôn ngữ và giọng điệu trần Phạm vi nghiên cứuThực hiện đề tài này, chúng tôi dành sự quan tâm đến một số tập truyệnngắn, tuyển tập truyện ngắn đã được xuất bản của các nhà văn tiêu biểu nhưNguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Ngọc Tư,Nguyễn Thị Thu Huệ... và một số cây bút trẻ có truyện ngắn đạt giải từ sau1986 đến nay đã được in trong các tuyển ra, trong quá trình thực hiện đề tài, để thấy được sự vận động vàphát triểnphát triển của nó trong mấy mươi Phương pháp thống kê - phân loạiPhương pháp này được sử dụng trong quá trình khảo sát các tác phẩmtruyện ngắn thế sự - đời tư tiêu biểu từ sau 1986 nhằm có những cứ liệu xácđáng cho các luận Đóng góp mới về khoa học của luận án- Luận án cung cấp cái nhìn hệ thống về truyện ngắn Việt Nam giaiđoạn sau 1986 trong bước chuyển của lịch sử văn học, góp phần khẳng địnhmối quan hệ biện chứng giữa nội dung phản ánh, kiểu nhân vật với phươngthức trần thuật trong thể loại Luận án là công trình đầu tiên tìm hiểu và phân tích một cách tươngđối toàn diện, có hệ thống về đặc điểm phương thức trần thuật của truyệnngắn viết theo khuynh hướng thế sự - đời tư trong văn xuôi Việt Nam từsau Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của luận Ý nghĩa lí luậnBằng việc phân tích phương thức trần thuật của truyện ngắn thế sự - đờitư trong văn học Việt Nam từ sau 1986, luận án góp phần làm sáng tỏ ý nghĩacủa lí thuyết tự sự học hiện về mặt cấu trúc loại hình, từ việc phân tích, đánh giá truyện ngắnthế sự - đời tư luận án góp phần làm sáng tỏ mối quan hệ giữa quan niệmnghệ thuật về hiện thực, con người với các phương diện thuộc thuộc phươngthức trần thuật của thể Ý nghĩa thực tiễnVới đề tài này, luận án đã khảo sát, khái quát, tổng kết bước đầu cáckhuynh hướng truyện ngắn Việt Nam từ sau 1986 trong đó nổi bật là khuynhhướng thế sự - đời tư. Từ đó, làm sáng tỏ sự vận động, phát triển, thành tựu vàhạn chế của thể loại truyện ngắn trong văn học Việt Nam hiện cạnh đó, luận án có thể trở thành tài liệu tham khảo cho nhữngngười làm công tác nghiên cứu, giảng dạy, học tập, những ai quan Cấu trúc của luận ánNgoài phần Mở đầu và Kết luận, Luận án có nội dung chính gồm 4chương như sauChương 1 Tổng quan tình hình nghiên cứuChương 2 Truyện ngắn thế sự - đời tư trong sự vận động, pháttriển của văn học Việt Nam từ sau 1986Chương 3 Điểm nhìn trần thuật, tổ chức tình huống và kết cấutrong truyện ngắn thế sự - đời tư từ sau 1986Chương 4 Ngôn ngữ và giọng điệu trần thuật của truyện ngắn thếsự - đời tư từ sau 19867Chương 1TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨUTừ điển thuật ngữ văn học định nghĩa “Truyện ngắn là tác phẩm tự sựcỡ nhỏ. Nội dung của truyện ngắn bao trùm hầu hết các phương diện của đờisống đời tư, thế sự hay sử thi nhưng cái độc đáo của nó là ngắn. Truyện ngắnđược viết ra để tiếp thu liền một mạch, đọc một hơi không nghỉ” [94; hành cùng sự phát triển của xã hội, truyện ngắn là một trongnhững thể loại có lịch sử phát triển lâu dài và phức tạp. Sự biến động của xãhội qua từng thời kì lịch sử phát triển của loài người kéo theo sự vận động vàbiến đổi của truyện ngắn thế giới nói chung, truyện ngắn Việt Nam nói đầu thế kỉ XX đến nay, truyện ngắn hiện đại Việt Nam có những thay đổitheo hướng tích cực để thích ứng với sự đổi thay của thời đại, đặc biệt từ thờikì sau 1986, nó đã chứng tỏ là một thể loại có khả năng dung hòa được vớinhịp sống hối hả và bao quát được những vấn đề đặt ra trong xã hội ngày Quan niệm chung về phương thức trần thuật trong truyệnngắn thế sự - đời Khái niệm truyện ngắn thế sự - đời tưDo tác động của hoàn cảnh chiến tranh, nội dung ưu tiên hàng đầu trongcác tác phẩm văn học Việt Nam giai đoạn 1945 - 1975 là những biến cố lịch sửtrọng đại, nhiệm vụ của đời sống chính trị. Khuynh hướng sử thi vì thế nổi lênnhư một khuynh hướng tiêu biểu và duy nhất của văn học giai đoạn này. Sauđổi mới, văn xuôi từng bước thoát ra khỏi áp lực của “chủ nghĩa đề tài” bằngkinh nghiệm cá nhân đột phá vào các vùng hiện thực mới, chủ quan hóa cáchnhìn đối với những hiện thực vốn quen thuộc. Giá trị tác phẩm bây giờ khôngcòn phụ thuộc vào đề tài nữa mà do cách xử lí nghệ thuật của nhà văn quyếtđịnh. Tương ứng với các mảng hiện thực lớn cùng cảm hứng sáng tác của nhàvăn là những khuynh hướng sử thi, thế sự - đời tư và triết luận. Trong luận ánnày, chúng tôi đặc biệt dành sự quan tâm đi sâu tìm hiểu, nghiên cứu truyện8ngắn thế sự - đời tư, lí giải những nguyên nhân hình thành, phát triển và sứchút mạnh mẽ của khuynh hướng này đối với các nhà sáng điển Tiếng Việt Hoàng Phê chủ biên định nghĩa thế sự là “việcđời”. Theo cách hiểu khái quát đó truyện ngắn thế sự là truyện ngắn viết vềcuộc sống đời thường, về thế thái nhân tình, về con người của thực truyện ngắn viết theo khuynh hướng này chú ý khẳng định giá trị thẩmmĩ của cái đời thường, khám phá mọi phức tạp, éo le và cả cái cao quý trênhành trình đi tìm sự sống và hạnh phúc của con người. Thế sự làm cho truyệnngắn giàu tính thời sự, mở rộng phạm vi phản ánh của hiện thực đời là một thể tài đã có truyền thống trong lịch sử văn học dân tộc. Từ cácbậc đại thi hào xưa như Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Du, Nguyễn Khuyến đãkhéo léo đưa vào trong sáng tác của mình bức tranh xã hội đương thời với sựthối nát của giai cấp thống trị và nỗi bi thương của những người dân nghèokhổ. Khuynh hướng này chỉ bị chững lại những năm 1945 - 1975 do văn họcdành sự ưu tiên cho những tác phẩm mang khuynh hướng sử thi, phù hợp vớihoàn cảnh đất nước lúc bấy giờ. Sang đến giai đoạn 1975, cảm hứng này tiếptục được “phục sinh” và có sức lan tỏa mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Bàn về thếsự là bàn đến các nội dung đặc tả bức tranh hiện thực đời sống muôn mặthiện thực lớn - cuộc sống lao động kiến thiết và khôi phục đất nước; hiệnthực nhỏ - cuộc sống hàng ngày của mỗi con người đồng thời đặc sắc củanhững sáng tác viết theo khuynh hướng này còn ở chỗ nó phát hiện ra nhữngkhiếm khuyết trong cơ chế xã hội thời mở cửa, dóng lên hồi chuông cảnh báokịp thời qua những mảnh hiện thực bị cắt rời, nham tư hay đời sống cá nhân được hiểu là “cuộc sống của một cá nhân,đặc biệt được xem như toàn bộ sự lựa chọn cá nhân góp phần nhận dạng tínhcách một người” Theo Từ điển Wikipedia tiếng Việt. Truyện ngắn mang cảmhứng đời tư là truyện ngắn về số phận con người cá nhân. Nó hướng đến đờisống tinh thần phong phú, phức tạp của con người với những ham mê, dục9vọng thường tình, những khắc khoải về số phận, những cảm xúc gần gũi, đờithường. Những tác phẩm thuộc khuynh hướng này thường lấy đề tài trực tiếptừ đời sống hiện tại. Điểm tựa cho kết cấu không phải là các biến cố lịch sửmà là những chuyện hàng ngày, những quan hệ nhân sinh muôn thuở, nhữngứng xử có tính phổ biến hay đột biến của con người. Qua đó nhà văn săn tìmý thức về nhân cách. Con người cá nhân, có lẽ, đã xuất hiện trong các thiphẩm của các thi nhân từ rất lâu và có thể xem giai đoạn 1930 - 1945 với sựxuất hiện của phong trào Thơ mới đã đánh dấu sự thức tỉnh và ý thức về bảnthể mạnh mẽ nhất “Ta là Một, là Riêng, là Thứ Nhất - Không có chi bè bạnnối cùng ta” Xuân Diệu. Giai đoạn 1945 - 1975 do hoàn cảnh đặc thù conngười cá nhân chìm khuất nhường chỗ cho con người cộng đồng, lịch sử gọitên những người anh hùng mang những nét đẹp thời chiến trận, sử thi phủ lêncác sáng tác văn học tấm áo choàng của lịch sử, số phận của mỗi cá nhân nhưmột lẽ tất yếu, trùng khít với số phận của cộng đồng. Câu hỏi “ta vì ai?” vì thếđược ưu tiên hàng đầu. Khi cuộc sống trở về nhịp quay bình thường như nóphải có, văn học trở về với đời sống cá nhân đó là một quy luật tất yếu. Vănhọc sau 1975 lấy con người làm tâm điểm soi chiếu lịch sử. Con người từđiểm nhìn lí tưởng hóa được đặt vào điểm nhìn thế sự, đời tư. Dòng chảy đờithường ở thời đại ý thức cá nhân phát triển tạo cho con người một diện mạomới; phong phú, phức tạp, nhiều bí ẩn và nhà văn trong nỗ lực khám phá,chiếm lĩnh đời sống nhận ra mỗi cá thể là “một tiểu vũ trụ” không thể biết hết,không thể biết trước. Để con người hiện diện với các quan hệ nhân sinh cụthể, nhiều chiều, đó là cách xử lí phổ biến. Con người đời thường với nhữngẩn mật, khuất lấp hiện lên muôn màu muôn vẻ thực trạng nhân tính suy thoái,con người ham mê dục vọng tầm thường, con người chìm sâu vào hào quangquá khứ... nhưng tiêu biểu và nổi bật hơn cả chính là con người tìm được cáchkhẳng định giá trị tự thân của mình, nói khác đi là con người có giá trị tự được xem như là một trong những phát hiện mang tính nhân bản về con10người của các nhà văn giai đoạn những điều đã trình bày ở trên có thể hiểu truyện ngắn thế sự - đờitư là truyện ngắn viết về cuộc sống hàng ngày và số phận của mỗi con ngườicá nhân trong dòng chảy vô thường ấy. Sáng tác theo khuynh hướng thế sự đời tư, người cầm bút xem cuộc sống hàng ngày đang diễn ra là đối tượngsinh động và thú vị, số phận con người cá nhân là một đích đến của vănchương. Nói cách khác, nó chứng tỏ tinh thần nhân bản và ý thức dân chủ củanhà văn. Sự phát triển của khuynh hướng văn học này gắn với những thay đổitrong quan niệm về đối tượng, chức năng của văn chương, những thay đổitrong hứng thú sáng tác của nhà văn và tâm thế tiếp nhận của công tài này không phải đến văn học sau 1975 mới có mà nó đã manh nha hìnhthành thậm chí có thời kì phát triển đạt được nhiều thành tựu trước đó. Tuynhiên sự vận động của thể tài truyện ngắn này thăng giáng theo nhịp chuyểndời của lịch sử và để đến thời kì sau đổi mới, hội tụ đầy đủ các yếu tố thuậnlợi, nó một lần nữa được phục hồi và hứa hẹn sẽ có những thành tựu đángmong luận án, chúng tôi sử dụng khái niệm truyện ngắn thế sự - đời tưnhư một công cụ khảo sát diện mạo một thể loại văn học dưới góc nhìn thểtài. Cho nên, truyện ngắn thế sự - đời tư trước hết cũng mang những đặc trưngthi pháp của thể loại truyện ngắn, một thể loại tự sự hiện đại độc đáo. Thứnữa, nó khai thác thể tài thế sự - đời tư dưới một góc nhìn, cách tiếp cận riêng,mang hơi thở của lịch sử, thời đại, những tìm tòi, sáng tạo và tư tưởng riêngcủa nhà văn. Xét đến cùng, truyện ngắn thế sự - đời tư cũng là một loại hìnhdiễn ngôn tự sự gắn liền với thế giới quan, nhân sinh quan, sản phẩm của mộthình thái ý thức xã hội, lịch sử mà nền tàng là tinh thần dân chủ, nhân văn, đốithoại, hoài nghi. Thực tế đây không hẳn là một khái niệm mới mà chúng tôi đinghiên cứu một thể loại trong tiến trình lịch sử văn học, chịu ảnh hưởng trongcác tiêu chí phân chia của trường phái Pospelov. Với khái niệm công cụ này,11chúng tôi sẽ có dịp tìm hiểu kỹ hệ thống thi pháp của thể tài truyện ngắn nàyở nhiều cấp độ, phương diện như trần thuật, kết cấu, ngôn ngữ, để thấy nhữngthành tựu, đóng góp, cả hạn chế, nhược điểm, nhưng quan trọng hơn là sự vậnđộng, phát triển của thể tài trong lịch sử văn học và sự sáng tạo của các nhàvăn đổi Quan niệm chung về phương thức trần thuậtVới bất cứ tác phẩm nào thuộc loại hình tự sự truyện thì trần thuậtluôn là yếu tố then chốt, phương diện cơ bản. Theo đó, trần thuật thường đượchiểu là “việc giới thiệu, khái quát, thuyết minh, miêu tả đối với nhân vật, sựkiện, hoàn cảnh, sự vật theo cách nhìn của một người trần thuật nhất định”[94; Cho nên, có thể nói rằng trần thuật chính là việc tổ chức tácphẩm tự sự theo một điểm nhìn, cách nhìn nhất định. Trần thuật gắn liền vớitất cả các yếu tố trong thế giới nghệ thuật của tác phẩm như bố cục, kết cấu,tổ chức không gian, thời gian, ngôn ngữ, giọng điệu. Nó là một hệ thống tổchức phức tạp “nhằm đưa hành động, lời nói của nhân vật vào đúng vị trí củanó để người đọc có thể lĩnh hội theo đúng ý định tác giả mối quan hệ giữacâu chuyện và cốt truyện” [94; trần thuật bao giờ cũng gắn với một người kể và điểm nhìn nhấtđịnh. Một tác phẩm tự sự có thể được kể theo người kể chuyện ở ngôi thứ ba,đứng ngoài quan sát, ngôi thứ hai hoặc ngôi thứ nhất, tự thuật. Điểm nhìn trầnthuật có thể thay đổi linh hoạt, đan cài, di chuyển, luân phiên trong một tácphẩm. Có nhiều cách trần thuật gắn với người trần thuật như trần thuật ở ngôithứ ba khách quan, trần thuật theo ngôi thứ nhất do một nhân vật trong tácphẩm đảm nhiệm, trần thuật bằng dòng ý thức, độc thoại nội tâm. Mỗi điểmnhìn này gắn với một tọa độ không gian, thời gian tạo thành trường nhìn, thểhiện cách nhìn, cách cảm, lập trường, tư tưởng của người trần thuật và của tácgiả. Mỗi sự thay đổi sẽ đem đến một sắc thái, bình diện miêu tả, tái hiện, haytái tạo thế giới khác nhau, đem đến cảm xúc, ý nghĩa đa tầng lớp. Ngoài ra,12cách thành phần trần thuật còn gồm không gian, thời gian, giọng điệu, ngônngữ, tiết tấu, nhịp điệu… Những yếu tố này tương tác, kết hợp hài hòa tạo nêncấu trúc trần thuật nghệ thuật trong tác phẩm tự sự. Tuy nhiên, hai yếu tố thenchốt liên quan đến phương thức trần thuật là người kể chuyện và điểm nhìntrần kể chuyện hiểu theo nghĩa đen chính là người kể câu chuyện chongười đọc nghe. Đây là nhân vật trung tâm của tự sự vì trên danh nghĩa toànbộ văn bản tự sự là sản phẩm của họ tạo ra. Bản thân người kể chuyện với cácyếu tố về chỗ đứng, điểm nhìn, cách thức kể lại câu chuyện sẽ tác động mạnhđến cấu trúc truyện kể cũng như mạch truyện trong tác phẩm. Người kểchuyện có vị trí, vai trò đặc biệt trong nghệ thuật tự sự. Nó chính là mộtphương diện quan trọng thể hiện chủ thể, bởi thái độ của người kể chuyện vớithế giới câu chuyện được kể thống nhất, hoặc ít nhất cũng thống nhất ở mộtphần, một phương diện nào đó với quan điểm, với lập trường tư tưởng của tácgiả. Vì vậy, mỗi loại hình diễn ngôn tự sự đều phải xây dựng một người kểchuyện đặc thù để kể câu chuyện mà chủ thể muốn gửi tới đối tượng tiếpnhận. từng nói “tự sự là cái có thể chuyển ngữ được mà không phảichịu một tổn hại cơ bản nào”, và vai trò chuyển ngữ ấy đặt lên người kểchuyện, điểm khác biệt cơ bản của tác phẩm tự sự với một bài thơ trữ tình haymột diễn ngôn triết hệ thống trần thuật của một diễn ngôn tự sự, mối liên hệ giữa cácyếu tố người kể chuyện - nhân vật - người nghe được thiết lập trong mộtchỉnh thể của chiến lược giao tiếp thể loại. Mối quan hệ hoàn chỉnh của bayếu tố đã đặt ra một vấn đề khác gắn bó chặt chẽ với người kể chuyện - vấnđề điểm nhìn. Mỗi nhân vật người kể chuyện bao giờ cũng gắn với một vị trí,một chỗ đứng nhất định trong không, thời gian, trong mô hình cấu trúc truyệnkể của thể loại, tạo nên những điểm nhìn khác nhau. Như vậy, điểm nhìn nghệthuật gắn liền với người kể chuyện. Nó thể hiện rõ vị trí của người kể với câu13chuyện được kể, từ đó xác định quyền năng của người kể chuyện trong tácphẩm. Do đó, điểm nhìn nghệ thuật gắn với cái nhìn của chủ thể, mối quantâm của anh ta với các vấn đề được kể, tạo ra cái nhìn nghệ thuật cho tácphẩm. Mỗi điểm nhìn thể hiện một vai, vị thế phát ngôn nào đó của chủ nghệ thuật tự sự, vấn đề điểm nhìn thuộc về các kỹ thuật, nguyên tắc tựsự. Nó là một trong những vấn đề then chốt của kết cấu tác phẩm, “cung cấpmột phương diện để người đọc nhìn sâu vào cấu tạo nghệ thuật và nhận ra đặcđiểm phong cách ở trong đó” [94; Tuy nhiên, nhìn từ hệ hình cấu trúcvăn bản tự sự, nghệ thuật kể chuyện có ba điểm nhìn điểm nhìn nhân vật,điểm nhìn người kể chuyện và điểm nhìn của người đọc. Khi truyện kể trởnên phức tạp hơn thì điểm nhìn thứ tư nảy sinh từ sự khác biệt rõ rệt giữangười kể chuyện và tác tác phẩm tự sự, điểm nhìn có ý nghĩa quan trọng, là yếu tố cơbản nhất tạo nên phương thức trần thuật của văn bản, là phương tiện để tổchức, kết cấu văn bản nghệ thuật. Do đó, dựa vào việc sử dụng điểm nhìn màngười ta phân chia ra nhiều phương thức tự sự/ trần thuật khác nhau. Theo Từđiển thuật ngữ văn học thì “phương thức trần thuật được cấu thành bởi sựphối hợp giữa tiêu cự trần thuật và cách kể” [94; Tiêu cự trần thuật cóthể chia thành hai loại trần thuật biết hết - điểm nhìn toàn tri vầ trần thuậttheo điểm nhìn nhân vật - điểm nhìn hạn tri. Còn tư cách kể gắn với người kểchuyện nên có thể chia thành người kể lộ diện kể theo ngôi thứ nhất hoặcngười kể ẩn tàng kể theo ngôi thứ ba hoặc ngôi thứ hai.Có rất nhiều quan niệm chia phương thức trần thuật thành nhiều loạihình khác nhau. Song trên những điểm dị biệt vẫn có nét đại đồng là chủ yếudựa vào cách kể ở ngôi thứ nhất và ngôi thứ ba, gắn với cái nhìn toàn tri vàhạn tri, người kể lộ diện và ẩn tàng. Theo đó, nhìn chung, chúng ta có thể chiathành một số phương thức sau1. Kể theo ngôi thứ ba, khách quan, người kể biết hết, tiêu cự Kể theo ngôi thứ ba, người kể biết hết, có bình Kể theo ngôi thứ ba, chủ quan do vận dụng điểm nhìn của nhân vậttiêu cự bên trong.4. Kể theo ngôi thứ nhất của người kể bàng quan, đứng Kể theo ngôi thứ nhất có bình Kể theo ngôi thứ nhất mang điểm nhìn của người trong cuộc [94; thân sự phân chia thành các phương thức trần thuật trên đây đã thểhiện quá trình vận động, phát triển của thể loại tự sự trong lịch sử văn sát nghệ thuật tự sự trong tiến trình văn học chúng tôi nhận thấy phươngthức trần thuật theo ngôi thứ ba xuất hiện khá sớm, từ trong văn học dân gianvà trung đại, còn phương thức trần thuật theo ngôi thứ nhất, từ điểm nhìn bêntrong xuất hiện muộn hơn, bắt đầu từ các tác phẩm văn học hiện đại. Ngaytrong cùng một phương thức trần thuật theo ngôi thứ ba thì các tác phẩm tự sựdân gian, trung đại chủ yếu theo các phương thức 1 và 2, phương thức 3 đếnthời cận, hiện đại mới có. Bởi chỉ khi xuất hiện ý thức cá nhân mạnh mẽ, rõrệt, biểu hiện trực tiếp, cụ thể thì điểm nhìn bên trong mới được sử dụng trongnghệ thuật tự sự, để kể truyện đời và truyện của mình bằng góc nhìn, kinhnghiệm, tư tưởng của cá nhân. Khái niệm “tiêu cự” trong phương thức trầnthuật giúp khu biệt được đặc trưng của từng thời kỳ, giai đoạn văn học khácnhau có cùng một hình thức trần thuật ví dụ như việc trần thuật theo ngôi thứba trong văn học trung đại và hiện Phương thức trần thuật của truyện ngắn thế sự, đời tưTìm hiểu phương thức trần thuật của truyện ngắn thế sự - đời tư, chúngtôi vẫn sử dụng khái niệm phương thức trần thuật và các hình thức phươngthức trần thuật của tự sự nói chung. Tuy nhiên, khảo sát một thể loại tự sự cỡnhỏ là truyện ngắn, gắn với thể tài thế sự - đời tư trong bối cảnh văn học ViệtNam những năm đổi mới từ sau 1986, chúng tôi xem xét những phương16thức trần thuật đặc trưng được sử dụng, lý giải cặn kẽ hơn về các phương thứctrần thuật đó. Từ đó, chúng tôi sẽ bước đầu nhận diện đặc trưng thể loại gắnvới thể tài sẽ chi phối đến hệ thống thi pháp, ngôn ngữ nghệ thuật, mà với tựsự thì quan trọng bậc nhất vẫn là trần thuật, sự kể, cách kể, chiến lược cạnh đó, chúng tôi cũng mở rộng khảo sát, tìm hiểu mọi yếu tố chiphối đến các phương thức trần thuật của truyện ngắn thế sự - đời tư như tìnhhuống/ sự kiện, kết cấu, ngôn ngữ, giọng điệu… để có cái nhìn toàn tri, đachiều, thấu đáo, đặt phương thức trần thuật trong chỉnh thể tổ chức nghệ thuậtcủa tác phẩm tự sự. Do đó, khái niệm phương thức trần thuật của truyện ngắnthế sự - đời tư được hiểu linh động, mang tính chất công cụ như một cách tiếpcận thể loại văn học này trong giai đoạn văn học đổi mới. Từ đó, chúng tôi đikhu biệt, chỉ ra những đặc điểm riêng, mang tính đặc thù trong nghệ thuật trầnthuật của truyện ngắn thế sự - đời tư với các kiểu thể tài khác như lịch sử, khubiệt trần thuật của truyện ngắn thế sự - đời tư trong giai đoạn văn học đổi mớisau 1986 với truyện ngắn nói riêng và các thể loại tự sự nói trong trong giaiđoạn văn học sử thi thế, chúng tôi không định nghĩa duy danh hay đưa ra khái niệm thức trần thuật của truyện ngắn thế sự - đời tư là yếu tố hạt nhân, đặctrưng nổi bật để chúng tôi tìm hiểu, khảo sát, diễn giải và tái hiện một phầndiện mạo của thể loại trong sự vận động của một giai đoạn văn học có nhiềubiến đổi mang tính bước ngoặt. Và việc đi sâu tìm hiểu, nghiên cứu cácphương thức trần thuật của truyện ngắn thế sự - đời tư thời kỳ từ sau 1986 đếnnay cũng là một cách thay đổi tọa độ, điểm nhìn, phương pháp tiếp cận cáchiện tượng trong lịch sử văn học không đi theo lối mòn của lý thuyết phảnánh mà tìm hiểu bề sâu cấu trúc thể loại trong sự phát triển, thay đổi. Do đó,trần thuật là một cách thức đặc sắc, đặc thù và hữu dụng nhất để tái tạo hiệnthực trong các truyện ngắn, thể loại vẫn được coi là khái quát thế giới từ mộtlát cắt, khoảnh Tình hình nghiên cứu phương thức trần thuật trong văn xuôiViệt Nam từ sau 1986Vào những năm đầu của thế kỉ XX, phương thức trần thuật trong cáctác phẩm tự sự đã được giới nghiên cứu nước ta quan tâm và chú ý. Theo cáchhiểu truyền thống mà Từ điển thuật ngữ văn học định nghĩa, phươntình huống, kết cấu; ngôn ngữvà giọng điệu trần thức trần thuật là một vấn đề quan trọng của lý thuyết tự sự đãvà đang thu hút và nhận được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu trong vàngoài nước. Ở đây, trong công trình nghiên cứu này, chúng tôi xin được đềcập đến một vài công trình nghiên cứu của các lí thuyết gia nổi tiếng có ýnghĩa định hướng về mặt lí thuyết đối với công trình của chúng số nghiên cứu ngoài nướcTrước hết, ở nước ngoài, người có công đầu trong việc nghiên cứu nghệthuật tự sự phải kể đến là một nhà nghiên cứu người Anh. Trongtác phẩm Nghệ thuật văn xuôi, ông đã đưa ra bốn hình thức trần thuật cơ thức trần thuật thứ nhất có tên gọi “toát yếu toàn cảnh” có đặc điểm làsự xuất hiện của người trần thuật toàn tri, có quyền quyết định số phận cácnhân vật của mình. Hình thức trần thuật thứ hai có tên gọi là “người trầnthuật kịch hóa” có đặc điểm người trần thuật đứng ở ngôi thứ nhất xưng “tôi”kể lại câu chuyện mà mình được chứng kiến hoặc chính bản thân mình đã trảiqua. Hình thức trần thuật thứ ba có tên gọi “ý thức kịch hóa” cho phép miêutả đời sống nội tâm phức tạp, sự giao tranh những xúc cảm tâm lí của nhânvật. Cuối cùng là hình thức trần thuật thứ tư có tên “kịch thực thụ” gần vớitrình diễn sân khấu bởi vì ở đây trần thuật được đưa ra dưới dạng một cảnhdiễn trên sân khấu, người đọc chỉ có thể thấy được nhân dạng và các cuộc đốithoại của nhân vật mà không hiểu gì về đời sống nội tâm. Và trong quan niệmcủa mình, coi hình thức trần thuật này là hình thức hoàn hảo trong tác phẩm Điểm nhìn trong tiểu thuyết đã đưa ra mộtsự phân loại tương đối chi tiết về người kể chuyện. Thứ nhất là hình thứcngười kể chuyện “toàn năng biên tập”, người kể chuyện xuất hiện trong vai“nhà xuất bản - nhà biên tập”, họ biết tất cả và có khả năng xâm nhập vào câuchuyện dưới dạng những trao đổi về cuộc sống, phong tục và đạo đức. Thứhai là hình thức người kể chuyện “toàn năng trung tính”, không có sự canthiệp trực tiếp của người kể chuyện. Thứ ba là hình thức trần thuật “tôi lànhân chứng”, người kể chuyện kể từ ngôi thứ nhất, là một nhân vật trongtruyện nhưng không tham gia vào câu chuyện mà chỉ hiểu biết ít ỏi về cácnhân vật. Hình thức trần thuật thứ tư là hình thức “tôi là vai chính”, người kểchuyện là nhân vật chính trong câu chuyện. Thứ năm là hình thức trần thuật“toàn năng cục bộ đa bội”, người kể chuyện đứng bên ngoài câu chuyện, căncứ vào điểm nhìn của nhiều nhân vật để kể chuyện. Thứ sáu là hình thức trầnthuật “toàn năng cục bộ đơn bội”, người kể chuyện đứng bên ngoài và dựavào điểm nhìn của một nhân vật trong truyện để kể. Thứ bảy là hình thức trầnthuật theo “mô thức kịch” và cuối cùng là trần thuật theo kiểu “camera”. Ở20hai hình thức sau này hầu như người kể chuyện chỉ khách quan ghi lại các sựviệc, hiện tượng mà không tỏ bất cứ một thái độ chủ quan một nhà nghiên cứu Liên Xô trong cuốn Dẫn luận nghiêncứu văn học cũng bàn về vị trí người trần thuật trong nghệ thuật trần thuật đãphát biểu “Trần thuật tự sự bao giờ cũng được tiến hành từ phía một ngườinào đó. Trong sử thi, tiểu thuyết, cổ tích, truyện ngắn trực tiếp hay gián tiếpđều có người trần thuật” [136; Theo Pospelov thì “người trần thuật làloại người môi giới các hiện tượng được miêu tả và người nghe hoặc ngườiđọc là người chứng kiến và người cắt nghĩa các sự việc xảy ra”. Ở đây,Pospelov đã đặc biệt quan tâm đến vai trò của người kể chuyện trong nghệthuật trần thuật. Ông cũng cho rằng có hai kiểu người trần thuật phổ biến“Hình thức thứ nhất của miêu tả tự sự là trần thuật từ ngôi thứ ba không nhânvật hóa mà đằng sau là tác giả. Nhưng người trần thuật cũng hoàn toàn có thểxuất hiện trong tác phẩm dưới hình thức một cái “tôi” nào đó” [136; số nghiên cứu trong nướcBên cạnh các nhà nghiên cứu nước ngoài, các nhà nghiên cứu trongnước cũng dành sự quan tâm đến nghệ thuật trần thuật . Trong cuốn Tự sự họctập 1, Lại Nguyên Ân với bài viết “Về việc mở ra môn Trần thuật học trongngành nghiên cứu văn học ở Việt Nam” đã đồng nhất trần thuật học với tự sựhọc và cho rằng “Thực chất hoạt động trần thuật là kể, là thuật; cái đượcthuật, được kể, trong tác phẩm văn học tự sự là chuyện” [141; và“Trần thuật học hiện đại quan niệm tác phẩm nghệ thuật như một hiện tượnggiao tiếp nghệ thuật” [141; Đình Sử trong Từ điển thuật ngữ văn học đã đưa ra ý kiến khá hệthống và sâu sắc về vấn đề này. Nhà nghiên cứu cho rằng “Người trần thuậtlà một nhân vật hư cấu hoặc có thật, mà văn bản tự sự là do hành vi ngôn ngữcủa anh ta tạo thành” [94; Ông chỉ ra năm chức năng của người trầnthuật “1 chức năng kể chuyện, trần thuật; 2 chức năng truyền đạt, đóng vai21
Đang tải.... xem toàn văn Thông tin tài liệu Ngày đăng 23/03/2015, 0937 . DIẺN nghĩa và HOÀNG LÊ NHẤT THỐNG CHÍ 1. Nội dung tư tưởng của Tam quốc diễn nghĩa và Hoàng Lê nhất thống chí 2. Ảnh hưởng của Tam quốc diễn nghĩa đối với Hoàng Lê nhất thống chí trên phương. tưởng của Tam quốc diễn nghĩa và Hoàng Lê nhất thống chí Chương 2 So sánh kết cấu Tam quốc diễn nghĩa và Hoàng Lê nhất thống chí Chương 3 So sánh nhân vật trong Tam quốc diễn nghĩa và Hoàng Lê. Lê nhất thống chí 1 / j0 u y ễ n T k ị x k u ầ n Ảnh hưởng của Tam quốc diễn nghĩa đôi với Hoàng Lê nhất thống chí Chương 1 NỘI DUNG TƯ TƯỞNG CỦA TAM QUỐC DIEN n g h ĩa VÀ HOÀNG LÊ NHẤT THốNG - Xem thêm -Xem thêm Ảnh hưởng của Tam quốc diễn nghĩa đối với Hoàng Lê nhất thống chí, Ảnh hưởng của Tam quốc diễn nghĩa đối với Hoàng Lê nhất thống chí, , Chương 1 NỘI DUNG TƯ TƯỞNG CỦA TAM QUỐC DIỄN NGHĨA VÀ HOÀNG LÊ NHẤT THỐNG CHÍ, 1 Nội dung tư tưởng của Tam quốc diễn nghĩa, 2 Những ảnh hưởng của Tam quốc diễn nghĩa đối với Hoàng Lê nhất thông chí trên phương diện nội dung tư tưởng, 1 SỰ HÌNH THÀNH THỂ LOẠI VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ ĐỐI VỚI KẾT CẤU CHƯƠNG HỒI, 2 SO SÁNH KẾT CẤU TAM QUỐC DIỄN NGHĨA VÀ HOÀNG LÊ NHẤT THỐNG CHÍ, 2 Kết cấu đa tuyến, 3 Tính thống nhất trong kết cấu, 4 Phương thức trần thuật, Chương 3 SO SÁNH NHÂN VẬT TRONG TAM QUỐC DIỄN NGHĨA VÀ HOÀNG LÊ NHẤT THỐNG CHÍ, 2 Phân loại nhân vật trong Tam quốc diễn nghĩa và Hoàng Lê nhất thông chí, 1 Ngoại hình nhân vật, 2 Tính cách nhân vật, THƯ MỤC SÁCH THAM KHẢO
học/Tự sự học, Ngôn ngữ học, Văn học...cũng lần lượt ra mắt công chúng với một sốlượng đáng phương Tây có Lý luận tự sự đương đại Recent Theories of Narrative củaWallace Martin 1986, Nhập môn phân tích cấu trúc truyện kể Introduction to theStructural Analysis of Narratives của Roland Barthes 1977, Ngôn ngữ trần thuật –ngôn ngữ trần thuật mới Narrative Discourse – New Narrative Discourse của 1986, Trần thuật học Dẫn luận lý luận tự sự Narratology Introduction to theTheory of Narrative của Mieke Bal 1985, 1997. Kết cấu của thời gian trong tự sự hưcấu La Configuration Du Temps Dans Le Récit De Fiction của Paul Ricoeur1983-1985, Quyền uy của sự hư cấu Fictions ò Authority của Susan S. Lanser1992,Tự sự như là một phương pháp tu từ Narrative as Rhetoric của James Phelan1996, Lý luận tự sự của hậu hiện đại Postmodern Narrative Theory của Mark Currie1998, Tân tự sự học Narratologies do David Herman chủ biên 1999, Hướng dẫn líluận tự sự đương đại A Companion to Narative Theory do James Phelan và Peter chủ biên 2005…Ở Trung Quốc có Tự sự học nghiên cứu do Zhang YinDe tuyển chọn 1989, Dẫnluận tự sự học của Luo Gang 1994, Trung Quốc tự sự học của Yang Yi 1997, Nghiêncứu về trần thuật học và phong cách học tiểu thuyết của Shen Dan 2004, Trần thuậthọc của Dong Xiaoying 2001, Lý luận tự sự và văn hóa thẩm mỹ của TanJunqiang2002, Mỹ học tự sự của Geng Zhanchun 2002, Sự chuyển biến của mô thứctự sự của tiểu thuyết Trung Quốc của Chen Pingyuan 2003, Sơ khảo về mẫu/paradigm của ngôn ngữ tự sự trong tiểu thuyết đương đại của Wu Peixian 2003,Conđường Trung Quốc của Tự sự học do Zu Guosung chủ biên 2007.Ở Việt Nam có Nguyễn Đức Dân với Lôgic và Tiếng Việt 1996, Đặng Anh Đàovới Đổi mới tiểu thuyết phương Tây hiện đại 1995, Nguyễn Thái Hòa với Những vấnđề thi pháp của truyện 2000, Nguyễn Lai với Ngôn ngữ với sáng tạo và tiếp nhận vănhọc 1998, Lê Thị Tuyết Hạnh với cuốn Thời gian nghệ thuật trong cấu trúc văn bản tựsự qua các truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1975-19952003, Nguyễn Thị Thu Thủyvới Luận án Tiến sĩ Ngữ văn về đề tài Ngôn ngữ kể chuyện trong truyện ngắn Việt Namsau 1975 điểm nhìn và ngôn ngữ kể chuyện 2003, Lê Thời Tân với bài Tự sự họctên gọi, lược sử và một số vấn đề lí thuyết, Thái Phan Vàng Anh với Ngôn ngữ trầnthuật trong truyện ngắn Việt Nam đương đại, Cao Kim Lan với Người kể chuyện và mốiquan hệ giữa người kể chuyện với tác giả, vân vân, là những công trình đã nghiên cứungôn ngữ kể chuyện, điểm nhìn cũng như thời gian từ khía cạnh ngôn ngữ học và vănhọc. Trong cuốn Tự sự học, một số vấn đề lí luận và lịch sử do Trần Đình Sử chủ biên2004, đã tập hợp được rất nhiều bài viết của các nhà phê bình có liên quan đến lĩnhvực điểm nhìn và ngôn ngữ kể chuyện trong văn xuôi nghệ thuật. Dưới đây, xin điểm qua nội dung chính của một số công trình được nêu ở trên, đểsẽ góp phần làm rõ khái niệm Ngôn ngữ trần Ngôn ngữ trần thuật – ngôn ngữ trần thuật mới Narrative Discourse – NewNarrative Discourse của G. đã vận dụng lý thuyết Trần thuật học để khảo sát và bàn luận về bộ tiểuthuyết nổi tiếng Đi tìm thời gian đã mất của nhà văn trứ danh Pháp Marcel dẫn luận của Ngôn ngữ trần thuật, Genette đã khu biệt ba hàm nghĩa của tự sự larecit, định nghĩa ba khái niệm truyện, tự sự và trần thuật. Đồng thời, Genette cũngvận dụng cả lý thuyết ngôn ngữ học của Ferdinand de Saussure để giải thích truyện kể,tự sự và trần thuật. Trong đó, “cái được biểu đạt” hoặc nội dung trần thuật tức truyệnkể - thường chỉ những sự kiện/sự tình hoặc chân thực hoặc hư cấu; “cái biểu đạt”, trìnhbày, lời nói hoặc văn bản trần thuật là tự sự theo nghĩa gốc - chỉ những chuỗi lời nóihoặc văn bản kể về những sự kiện/sự tình đó; còn tất cả những hành động kể/trần thuậtmang tính sáng chế sản xuất ra những văn bản có nội dung truyện kể và kể cả nhữngtình cảnh thực hay hư ảo mà hành động trần thuật xảy ra trong đó đều là trần thuật. [71,tr. 7]Một hàm nghĩa nổi bật nhất, quan trọng nhất và cũng được chú ý nhiều nhất củatự sự là nó đảm nhiệm bằng miệng hoặc chữ viết công việc trình bày về một hay mộtchuỗi sự kiện/sự tình. Rõ ràng với nghĩa như thế tự sự là chỉ hành động trần thuật. Vậykhông có hành động trần thuật thì không có trần thuật, có khi thậm chí không có nộidung trần thuật. [71, tr. 6] Có hành động trần thuật thì phải có chủ thể trần thuật. Genettequan niệm rằng, không thể có những tự sự không có người trần thuật. Nếu không cóngười trần thuật, tự sự sẽ không thể được thực hiện, và đó sẽ là một hành động vô trầnthuật, vì thế cho nên nó dứt khoát là một trần thuật không có hành động giao tiếp [71, trong cuốn sách này, Genette chia khái niệm tự sự theo nghĩa rộng ra baphạm trù Thời gian quan hệ thể hiện thời gian truyện kể và thời gian ngôn ngữ/lời nói;Ngữ thể phương thức cảm nhận truyện kể của người trần thuật, gồm vấn để “điểmnhìn” và Ngữ thức các loại hình lời nói được người trần thuật sử dụng, tập trung thểhiện vấn đề “khoảng cách” và ngôi [71, tr. 9]. Đó sẽ là những luận cứ quan trọng củaluận án chúng kể về một sự kiện/sự tình, người ta có thể kể ít hay nhiều tùy từng trường hợpvà ý mình, cũng có thể kể từ khía cạnh này nọ tùy theo sự cần thiết của mình. Phạm trùngữ thức của trần thuật chính đề cập đến khả năng trên. Nói một cách chính xác và cụthể hơn, những thông tin được kể lại, thường khác về trình độ được thể hiện, có thểđược thể hiện trực tiếp hay gián tiếp, nhiều hay ít, từ khía cạnh này hay khía cạnh nọ,được người tiếp nhận từ vị trí như thế nào những chi tiết thông tin đó, đều có thể điều tiết bằng các loại hình lời nói của người trần thuật, trong đó, có các kiểu thoại dẫn. [71, Thoại dẫn reported speech là lời người khác hoặc lời dẫn từ sách vở khácđược đưa vào lời nói hoặc bài viết của người nói/người viết. Thoại dẫn trực tiếp, thoạidẫn gián tiếp, thoại dẫn tự do gián tiếp vân vân là những hình thức ngôn ngữ khác nhaunhằm cùng diễn đạt một nội dung. Đặc trưng của các hình thức thoại dẫn cụ thể đượcthể hiện bằng sự biến đổi về nhân xưng, thời gian, từ ngữ, loại hình câu và dấu đổi phương thức ngôn ngữ của người trần thuật cũng như nhân vật trong văn bảntrần thuật thường được làm thay đổi luôn phong cách, đồng thời, điểm nhìn và khoảngcách trần thuật cũng được điều tiết và hạn chế hữu hiệu. Trong văn bản trần thuật, thoạidẫn là lời nhân vật được đưa vào lời của người trần thuật. [42, tr. 132 ] Trần thuật học Dẫn luận lý luận tự sự của Mieke Bal là một công trìnhquan trọng về lí luận Trần thuật học, tập trung giới thiệu các thành phần/yếu tố elementschủ yếu về lí luận tổng hợp của văn bản trần thuật/tự sự từ các khía cạnh văn bản text,câu chuyện story và tài liệu fabula, giải thích lí thuyết cơ bản đề cập đến các yếu tốvề lí luận tự sự như sự kiện event, người hành động actors, thời gian time, địa điểmplace, tiêu điểm trần thuật narrative focalization, người trần thuật/người kể chuyệnnarrative subject vân Bal, văn bản text là một chỉnh thể có giới hạn và cấu trúc nhất định tổ hợpbởi những ký hiệu ngôn ngữ. Ngôn ngữ trần thuật nghiên cứu quan hệ giữa trạng tháithời gian và sự kiện trong các mô thức ngôn ngữ của văn bản tự sự, tập trung vào cácmối quan hệ có thể giữa truyện kể và văn bản tự sự, quá trình trần thuật và văn bản trầnthuật/tự sự, truyện kể và quá trình tự sự. Nó không quan tâm đến bản thân truyện kể vàcũng không đề cập đến việc xây dựng truyện kể hoặc tình tiết. Cụ thể hơn, Ngôn ngữtrần thuật chỉ khảo sát những vấn đề như hình thái thời gian, hình thức ngôn ngữ tứcloại hình ngôn ngữ mà người trần thuật đã sử dụng, quan điểm của Genette và hình tháingôn ngữ tức phương thức cảm nhận truyện kể của người trần thuật, quan điểm củaGenette [73, tr. 2]. Lý luận tự sự hậu hiện đại của Mark Currie tập trung thảo luận những đổithay của hậu hiện đại và giải cấu mang tính chất triệt để về các yếu tố lí luận tự sự như“khách thể tự sự”, “thời gian và không gian tự sự”, “chủ thể tự sự” vân vân trong Tựsự học truyền thống hay còn gọi là Tự sự học kinh điển. Tư tưởng của tác giả đã tiếpnhận và thể hiện những trào lưu tư tưởng hiện đại của các đại gia, trong đó, có Chủnghĩa giải cấu của Derrida, Hình thái ý thức của Althusser, Chủ nghĩa Hậu hiện đại củaTriết gia Pháp Jean-Francois Lyotard, Chủ nghĩa Tân lịch sử của Nhà tư tưởng PhápMichel foucault, xây dựng lại lí luận tự sự. Hai chủ đề quan trọng được thể hiện trongcuốn sách là quan hệ giữa tự sự với thân phận, vai trò của thời gian trong việc trầnthuật đã đi suốt cả tác phẩm. Chung quanh hai chủ đề đó, những vấn đề “tiểu thuyết”, “phê bình” và “ý thức hệ” đã được liên kết với nhau. Tự sự, thân phận, thời gian và ýthức hệ là những cái được các nhà nghiên cứu hậu hiện đại chú tâm trong nghiên cứuvăn học cũng như nghiên cứu văn hóa hiện Nghiên cứu về trần thuật học và phong cách học tiểu thuyết của Thân Đanlà một cuốn sách có những nghiên cứu độc đáo và toàn diện kết hợp cả Trần thuật họcvà Phong cách học tiểu thuyết. Ngoài đánh giá và phân tích một cách sâu sắc và toàndiện những lí thuyết cơ bản của Trần thuật học và Phong cách học tiểu thuyết, tác giả đãdành cả ba chương tập trung nghiên cứu và đánh giá những mảng trùng khớp của Trầnthuật học và Phong cách học tiểu thuyết từ các khía cạnh như “diễn ngôn trong Trầnthuật học” với “văn bản trong Phong cách học tiểu thuyết”, “phân loại, tính chất và vaitrò của các loại góc độ trần thuật khác nhau”, “các loại hình thức diễn đạt khác nhauvà vai trò của lời nói nhân vật” , bổ sung và làm rõ hơn những vấn đề trước đây tuy đãcó nhiều nhà nghiên cứu đề cập và tìm hiểu nhưng vẫn còn nhiều thiếu sót và mơ hồnhư các khái niệm trần thuật, điểm nhìn, ngôi... dựa trên cơ sở phân tích văn bản vănhọc nổi tiếng trên thế Trong cuốn Trần thuật học của Đổng Tiểu Anh, Trần thuật học được tác giảquan niệm là nghiên cứu làm thế nào để diễn đạt quan điểm, ý thức, tư tưởng bằng cáchình thức nghệ thuật tức các phương thức của trần thuật của văn bản. [58, tr. 43] Tácgiả đã khảo sát tất cả mọi hình thức trần thuật được thể hiện trên các văn bản trong dòngchảy lịch sử. Đồng thời, từ khía cạnh hiểu biết về ngôn ngữ của loài người, từ quan hệgiữa tư duy con người với kí hiệu ngôn ngữ, tìm hiểu tác động của phương thức tư duyđối với phương thức diễn đạt, và quan hệ suy lí lôgíc trong việc lí giải, rút ra quy luật tựthân mà ngôn ngữ văn học diễn đạt. Tác giả không phải chỉ đơn thuần bàn về quan hệgiữa Ngôn ngữ trần thuật và văn bản, mà còn đi từ khía cạnh lí tính và tư duy con người,kết hợp với những biểu hiện của văn bản để trình bày quan điểm của mình. Do tư duycon người muôn hình muôn vẻ, phương thức trần thuật cũng bởi thế mà trở nên huyềnbí. Và qua phương thức trần thuật đó, cái ý nghĩa hoặc cái tôn chỉ cuối cùng của văn bảnđược phơi trần ra trước mắt mọi người dưới sự phận tích từng bước một, từng cái mộtnhư của phân tâm Trong cuốn Lý luận tự sự và văn hóa thẩm mỹ, ông Đàm Quân Cường cũngtập trung quan tâm đến nội bộ của văn bản tự sự. Ông cho rằng, lí luận trần thuật hoặc tựsự là thông qua những tác phẩm tự sự cụ thể, tức những cái gọi là “lời nói” parole,“diễn ngôn” discours, “kết cấu bên ngoài” surface structure, tìm ra yếu tố cấu thànhcủa lời nói, diễn ngôn và kết cấu bên ngoài, để rồi tìm hiểu cơ chế cấu tạo cụ thể củachúng. Quá trình này cũng nhằm tìm hiểu cái khả năng hình thành ngữ pháp tự sự hay là“ngôn ngữ trần thuật”. Đối tượng nghiên cứu của lý luận tự sự là các văn bản text tựsự. Trong các tác phẩm tự sự, văn bản tự sự text xuất hiện dưới hình thức “văn bản trần thuật” hoặc “ngôn ngữ tự sự”, trọng tâm của văn bản tự sự text là người trần thuật trầnthuật trong văn bản, kể về văn bản có một truyện kể nhất Ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu cũng có nhiều công trình nghiên cứu công trình nghiên cứu Những vấn đề thi pháp của truyện, Giáo sư NguyễnThái Hòa đã khảo sát và nghiên cứu những yếu tố quan trọng trong truyện là "lời kể" và"lời thoại", "không gian", "thời gian" và "giọng" vân vân từ nhiều khía cạnh, góc độkhác nhau. Khi định nghĩa cho Truyện, ông cho rằng, Truyện khác với các văn bản khácở chỗ các sự kiện trong Truyện diễn ra "trong sự sắp xếp, sự lựa chọn thời gian củangười kể", [28, tr. 192] "Truyện là văn bản chiếu vật diễn tiến trong thời gian tự nó màngười kể đã chọn cho nó." [28, tr. 193] Quan điểm của ông cho thấy thời gian là mộtyếu tố không thể thiếu của truyện, nó không phải là thời gian tự nhiên trong vũ trụ, mà làthời gian đã được sắp xếp lại theo ý đồ của người kể, mang tính chủ nghiên cứu về thời gian trong truyện, chị Lê Thị Tuyết Hạnh đã khẳng địnhvai trò quan trọng của thời gian trong các yếu tố cấu trúc lên một văn bản tự sự văn công trình Thời gian nghệ thuật trong cấu trúc văn bản tự sự qua các truyệnngắn Việt Nam giai đoạn 1975-1995, chị Hạnh đã đi sâu khảo sát quan hệ giữa thờigian với sự kiện cũng như thời gian với tâm lý nhân vật, xét dưới góc độ truyện. Thờigian được xem xét như là một trung tâm trong việc tổ chức một tác phẩm văn học. Tácgiả quan niệm rằng, thời gian có "chức năng như một thủ pháp, một tín hiệu, có giá trịnghệ thuật riêng", [18, tr. 191] nó phối hợp với những yếu tố khác trong một hệ thốngvăn bản tự sự văn học như điểm nhìn, giọng kể ... để thể hiện tính liên tục và tính lôgíccủa sự kiện lịch sử hay tính ước lệ, phi thời của tâm trạng tâm lý nhân vật. Bởi thế, hìnhthức thời gian trong truyện cũng trở nên "phong phú, đa dạng, biến hóa của các kiểuloại", giữa các hình thức đó, có sự xâm nhập và giao thoa nhất viết Điểm nhìn trong lời nói giao tiếp và điểm nhìn nghệ thuật trong truyện củaNguyễn Thái Hòa phân biệt điểm nhìn trong văn bản tự sự với điểm nhìn của lời nóitrong giao tiếp thường ngày. Tác giả cho rằng hai điểm nhìn đó có nét giống nhau nhưngvề cơ bản, chúng khác nhau về chức năng và cấu trúc. Theo tác giả, "Điểm nhìn nghệthuật, là điểm xuất phát của một cấu trúc nghệ thuật, ... là một cấu trúc tiềm ẩn đượcngười đọc tiếp nhận bằng thao tác suy ý từ các mối quan hệ phức hợp giữa người kể vàvăn bản, giữa văn bản và người đọc văn bản, giữa người kể và người đọc hàm ẩn." [27,tr. 96]Dựa trên cơ sở lí thuyết hội thoại và lí thuyết điểm nhìn, trong bài Về khái niệm"truyện kể ở ngôi thứ bá ba" và "người kể chuyện ở ngôi thứ ba", Nguyễn Thị ThuThủy đã làm sáng tỏ sự khác biệt về khái niệm "truyện kể ở ngôi thứ ba" và "người kểchuyện ở ngôi thứ ba", và cho rằng, nên gọi một cách chính xác hơn "truyện kể ở ngôi thứ ba" một là "Truyện kể có NKC hàm ẩn kể theo điểm nhìn nhân vật", hai là "Truyệnkể có NKC hàm ẩn kể theo điểm nhìn của mình". [39, tr. 145] Luận án Tiến sĩ ngôn ngữhọc với đề tài Ngôn ngữ kể chuyện trong truyện ngắn Việt Nam sau 1975 điểm nhìn vàngôn ngữ kể chuyện của chị Thủy cũng khảo sát và nghiên cứu về điểm nhìn và tìmhiểu quan hệ điểm nhìn với các phương thức kể công trình về Trần thuật hay Ngôn ngữ trần thuật được điểm qua trên đây chỉlà một phần của những tác phẩm hoặc tập trung nghiên cứu hoặc chỉ ít nhiều đề cập đếnngôn ngữ trần thuật, còn chưa kể đến những bài báo đã được công bố của nhiều nhànghiên cứu làm rõ và xác định khái niệm Ngôn ngữ trần thuật, luận án trình bày các nộidung sau đây01. Quan niệm về Trần thuật và Ngôn ngữ trần thuật02. Quan niệm về Người trần thuật03. Quan niệm về Điểm nhìn04. Quan niệm về Thời Quan niệm về "trần thuật" và "ngôn ngữ trần thuật"Genette cho rằng tất cả những hành động trần thuật mang tính sáng chế sản xuất ranhững văn bản có nội dung truyện kể và kể cả những tình cảnh thực hay hư ảo mà hànhđộng trần thuật xảy ra trong ấy đều là trần thuật. Trần thuật là một kết cấu đẳng lập chỉhành động kể, nó liên quan mật thiết đến Người kể chuyện/người trần thuật, thuộc về kỹxảo trần thuật/kể chuyện trên bậc diễn ngôn discourse trong văn bản văn ngữ đã cấu trúc lên phương thức trần thuật. Đối với một bộ tiểu thuyết, cáiquan trọng là nó được viết như thế nào, bằng một hệ thống ngôn từ gì và hình thức câunhư thế nào để làm cho câu chuyện/sự kiện xảy ra trước mắt người đọc. Tất cả nhữngthứ trên có liên quan đến cấu tạo nội bộ trên bình diện ngôn ngữ của tác phẩm vănhọc/văn bản tự sự được tổng hợp lại trong một khái niệm Ngôn ngữ trần Quan niệm theo hướng ngôn ngữ học - lý thuyết hành động ngôn từNhững người mở đầu cho lý thuyết hành động ngôn từ là Austin với cuốn Howto do things và Searle với cuốn Speech lý thuyết này, "một lời nói bao giờ cũng phải được thực hiện thông qua cáchành động ngôn từ hành động nói gồm ba hành động liên quan đến nhau. Đó là hànhđộng tạo ngôn, hành động ngôn trung và hành động dụng ngôn". [34, Mỗihành động ngôn từ trên có một tác dụng riêng và cụ thể cho mọi hoạt động lời Hành động tạo ngôn locutionary act là hành động nói tạo ra lời nói mang mộtlượng thông tin nhất định và truyền thông tin đó cho người ta Hành động ngôn trung illocutionary act là hành động nói nhằm thực hiện mụcđích giao tiếp nhất định của lời nói đích ngôn trung như trần thuật, cầu khiến, hỏi bằng lực thông báo của một phát ngôn lực ngôn trung.- Hành động dụng ngôn perlocutionary act là hành động nói nhằm đạt đượchoặc gây hiệu quả nhất định đến tâm lý người nghe thông qua lời ba loại hành động trên, lý thuyết hành động ngôn từ quan tâm nhiều đếnhành động ngôn trung vì nó có thể thay đổi tư cách pháp nhân của người đối thoại [34, bộc lộ tính cách của người phát động ngôn trung nằm ngay trong lời nói và được nhận diện bằng dấu hiệungôn ngữ ở mặt hình thức hoặc ở mặt ý nghĩa. [34, Căn cứ theo đích ngôn trung,các hành động ngôn trung khái quát là trần thuật được phân chia thành các kiểu hànhđộng ngôn từ cụ thể hơn là trình bày, đánh giá... được phân biệt với các kiểu cầu khiến,hỏi. Trong đó, hành động trần thuật thuộc kiểu hành động trình bày. Ngôn ngữ trầnthuật là hình thức biểu hiện của hành động ngôn từ trần bản trần thuật có thể được coi như là một câu trần thuật được mở rộng nhằmkể lại các sự kiện cho người tiếp nhận trần thuật biết, đồng cảm và nhận xét cùng trình tạo dựng một văn bản trần thuật của người trần thuật cũng là một hành độngngôn từ, cụ thể là hành động tạo tích ngôn ngữ trần thuật trong các văn bản tự sự tương đương với việc phântích hành động ngôn trung, tức người trần thuật làm thế nào và bằng hình thức gì đểphản ánh thực tại của một sự kiện và đồng thời, làm cho hành động ngôn từ của ngườitrần thuật mang lại hiệu lực, hiệu quả nhất động ngôn trung tức mục đích trần thuật của người trần thuật thường nằmtrong diện ngôn ngữ và được nhận diện bằng các ký hiệu ngôn ngữ, đó là những hìnhthức biểu hiện của ngôn ngữ người trần thuật gồm các từ ngữ chỉ nhân xưng và ngôi,các từ ngữ và ngữ đoạn biểu thị nghĩa thời gian...Qua các dấu hiệu ngôn ngữ được thể hiện bằng hành động ngôn từ, người ta cóthể nhận diện tính cách, tâm lý của người phát ngôn và do vậy, hành động trần thuậtđược phân tích một cách khách quan, khoa học hơn mà được giảm tính tư biện, chủquan. Vì vậy, việc phân tích tâm lý, tính cách nhân vật từ góc độ ngôn ngữ sẽ có tínhkhách quan, khoa học, giảm thiểu được tính tư biện, chủ Các quan niệm theo hướng văn Một số quan niệm về "trần thuật"Muốn làm rõ khái niệm Ngôn ngữ trần thuật, trước tiên phải xác định trần thuật làgì. Theo quan niệm của ông Đàm Quân Cường, “trần thuật” là một quá trình giao lưumà nội dung trần thuật với tư cách là thông tin được người phát ra thông tin addressertruyền đến cho người tiếp nhận thông tin addressee [65, Không phải hễ ai đó mởmiệng ra thì là “trần thuật”, trần thuật với nghĩa đen của nó là phải có sự kiện để thôngbáo, sự kiện đó có thể tồn tại thực sự trong thế giới thực tại lẫn hư cấu. Xác định một diễn ngôn/cú đoạn có phải đang tự sự, có thể xét dưới góc độ diễn ngôn đó được triểnkhai mở rộng từng bước một thành một câu chuyện hoặc lớn hoặc nhỏ, thậm chí là mộttác phẩm tự sự. Trần thuật có thể kể về sự kiện, sự tình chân thực, cũng có thể kể về sựtình hư luận tự sự nghiên cứu về cái quá trình trần thuật xuất hiện trong văn bản trầnthuật narrative text hay tác phẩm hư cấu narrative fiction [65, tr. 11]. Văn bản trầnthuật là văn bản mà người phát ngôn của việc trần thuật trình bày hay “kể” về chuyệnkể bằng một phương tiện trung gian như ngôn ngữ, hình ảnh, âm thanh, nghệ thuậtkiến trúc, hay bằng một thể phương tiện trung gian hỗn hợp. Vì thế, “văn bản” khôngphải cũng không thể đồng nhất với “chuyện kể”. Chuyện kể được mã hóa bằng nhữngký hiệu ngôn ngữ và qua đó được cấu trúc và đưa vào văn bản bằng hành động “kể”.Chính hành động“kể” trần thuật đó sản sinh ra những ký hiệu ngôn ngữ và dẫn dắt chora mắt “người trần thuật”.Trọng tâm của trần thuật là một quá trình tương ứng trong nội bộ một tác phẩm tựsự, một quá trình giao lưu và truyền đạt nội dung trần thuật từ một người kể chuyện hưcấu đến một người tiếp nhận trần thuật hoặc hư cấu hoặc tiềm ẩn. Vai trần thuật có thểxuất hiện dưới những trạng thái khác nhau căn cứ theo vị trí trong quá trình trần thuật,trình độ tham gia vào câu chuyện. Việc trần thuật được thể hiện qua một người trầnthuật như thế cũng nhất định phải được sàng lọc qua một điểm nhìn nhất định. Nội dungtrần thuật vậy cũng không thể nào nhất trí với trạng thái vốn có khi nó diễn ra, mà đượctrình diễn sau khi đã cấu trúc lại. Văn bản là trạng thái cuối cùng của những tổ hợp bản là một chỉnh thể có giới hạn và được tổ hợp lại bởi các ký hiệu ngôn ngữ hoặcmôi giới, tức ngôn ngữ discourse miêu tả về những câu chuyện đó bằng lối nói hoặcviết. [65, tr. 12] Nếu ngôn ngữ ở đây được lý giải là sự diễn đạt và cấp bậc trần thuật củavăn bản trần thuật thì câu truyện kể thuộc về đối tượng trần thuật hoặc cấp bậc được trầnthuật. [65, tr. 12]Trong quá trình giao lưu của văn bản trần thuật, có thể phân chia ra các cấp bậckhác nhau, nhưng vấn đề là nguyên tắrần thuật sử dụng trong văn bản tự sựđược chia làm 3 hình thức cơ bản một là ngôn ngữ/lời nói trực tiếp, là những ngônngữ/lời nói mà người trần thuật kể ra; hai là ngôn ngữ/lời nói gián tiếp, là ngôn ngữ/lờinói mà người trần thuật kể gián tiếp thông qua ngôn ngữ/lời nói của nhân vật trong hoặcngoài câu chuyện; ba là ngôn ngữ/lời nói chuyển đổi, người trần thuật kể trực tiếp lời nóicủa nhân cho rằng, Ngôn ngữ trần thuật chủ yếu là nghiên cứu các mối quan hệgiữa tự sự narrative và chuyện kể, tự sự và trần thuật, chuyện kể và trần thuật. Ôngđưa ra ba phạm trù của tự sựtheo nghĩa hẹp là thời gian, ngữ thể và ngữ như Genette, khi phân tích và trình bày khái niệm Ngôn ngữ trần thuật,Đàm Quân Cường vận dụng hệ thống lý thuyết Ngôn ngữ học của Saussure về ngônngữ và lời nói để miêu tả và thuyết minh cho cái đối tượng nghiên cứu của mình. Theoông Đàm, sự khu biệt về ngôn ngữ và lời nói của Saussure có thể hình dung hai bìnhdiện nghiên cứu khác nhau của lý luận tự sự. Một là hệ thống được tạo lập bởi tất cả các tác phẩm tự sự và có vai trò hạn định cho những tác phẩm tự sự đó tức ngôn ngữ củaSaussure. Một là sự thể hiện của hệ thống đó trong khuôn khổ của một tác phẩm tự sựnhất định tức lời nói của Saussure.Diễn ngôn discours histoire của Todorov chỉnhững tổ hợp và cấu trúc nghệ thuật được nhập vào câu chuyện khi kể truyện. Những tổhợp và cấu trúc như thế được tiến hành nhờ những biện pháp như điểm nhìn, các kiểuthời gian vân vân. [65, tr. 5] Bởi vậy, ông Đàm Quân Cường khái quát rằng“Văn bản” tức “ngôn ngữ”, là một hệ thống có cấu trúc khuôn khổ nhất định,trong đó các sự tình được tổ hợp lại bởi một kí hiệu ngôn ngữ ngôn ngữ tự nhiên hoặcnhững kí hiệu khác. Cùng với cấu trúc tự sự, Ngôn ngữ trần thuật nghiên cứu trình tựthời gian và sự tình dưới hình thức thể hiện của ngôn ngữ, tập trung vào các mối quanhệ có thể có giữa chuyện kể và văn bản, quá trình trần thuật và văn bản, chuyện kể vàquá trình trần thuật. Mấy thuật ngữ như trần thuật và người trần thuật, tiêu điểmhóa-người tiêu điểm hóa và nhân tố tiêu điểm hóa vân vân thể hiện nổi bật đặc tính củaNgôn ngữ trần thuật. Nhìn chung, quan điểm của ông Đàm Quân Cường có phần trùngkhớp với quan điểm của Genette. Cho nên, quan điểm trên đây của họ sẽ là cái cơ sởchính mà chúng tôi căn cứ vào đó để triển khai phân tích. Nó đã hàm chứa tối đa nhữngyếu tố liên quan của Ngôn ngữ trần Tiểu Anh giải thích Ngôn ngữ trần thuật như sau trần thuật được cấu tạobởi 3 phạm trù là người trần thuật, phương thức trần thuật và ngữ thái, ngữ thức, cấutrúc do trần thuật sản xuất ra. Chị ấy nhất trí với Genette ở chỗ Ngôn ngữ trần thuật nằmtrong ba phạm trù thời, thái, thức của Genette. Nhưng yếu tố được bao hàm trong baphạm trù đó thì khác ông Genette+ Thái là chủ thể trần thuật gồm ngôi, người trần thuật, người tiếp nhận trầnthuật, tiêu điểm hóa, vân vân;Ngữ thái trần thuật nghiên cứu về vấn đề “ai đang nói”, tức quan hệ giữa ngườitrần thuật và việc trần thuật. Nó gồm quan hệ giữa người trần thuật với điểm nhìn củanhân vật và nhân xưng; quan hệ giữa hình tượng nhân vật được hình thành do việc trầnthuật với thái độ của hình tượng này đối với sự kiện; quan hệ về thái độ của tác giả làkhẳng định hay phủ định đối với nhân vật cũng như sự kiện. [58, tr. 16]+ Thức gồm trình tự, khoảng cách, tần số, dạng thức câu vân thức trần thuật nghiên cứu về vấn đề “nói như thế nào”, tức quan hệ giữaviệc trần thuật và sự kiện, bao gồm những nội dung sau đây1. Sự kiện này diễn ra trong một biên độ thời gian và không gian như thế nào;2. Lần diễn ra của sự kiện, tức tần số trần thuật;3. Sự kiện này là hiện hữu hay hư cấu;4. Những hình thức ngôn ngữ khác nhau để miêu tả, đánh giá vân vân. về sự kiệnđó, tạo thành mô thức trần thuật. Ngoài ra, trần thuật có thể dẫn đến các phương hướng suy lý do sự hiểu biết và cái được trần thuật có khác, và cũng bởi thế mà có nhữngphong cách văn bản khác nhau. [58, tr. 16]+ Cấu trúc của văn bản là cái tổng hợp của các phương thức trần trúc trần thuật chỉ quan hệ giữa việc trần thuật và cấu trúc của văn bản. Cấutrúc văn bản không những chỉ cấu trúc ngoại tại của văn bản, mà còn chỉ cấu trúc nội tại,đó là những yếu tố trần thuật đã phát huy vai trò trong quá trình trần thuật, nhữngphương thức tư duy đã tham gia vào và làm thay đổi phong cách văn Đổng Tiểu Anh cũng cho rằng, phương thức tổ hợp của ngôn ngữ trần thuật làmột hình thức thể hiện thái độ trần độ trần thuật được thể hiện bằng cách lựachọn từ ngữ, việc chọn từ trở thành một biện pháp quan trọng để thể hiện thái độ của tácgiả. [58, tr. 101-102]Thân Đan trực tiếp định nghĩa Ngôn ngữ trần thuật như thếNgôn ngữ trần thuật là thứ ngôn ngữ dùng kể lại câu chuyện bằng lời nói hoặc vănviết, trong văn học, tức là văn bản mà độc giả sẽ tiếp cận. Nó gồm những bộ phậnkhông thể chia tách nhân xưng trong ngôn ngữ là tiêu chí để phán đoán người trần thuậtlà ngôi thứ nhất hay ngôi thứ ba; thời thái trong ngôn ngữ là tiêu chí để phán đoán quanhệ thời gian giữa người trần thuật với chuyện kể ...; diễn ngôn còn thể hiện ai là ngườitrần thuật, có mấy bậc trần thuật và quan hệ như thế nào, vân vân. Ngoài ra, Thân Đanđã xem xét vấn đề Ngôn ngữ trần thuật bằng lý thuyết văn bản học. Nếu xuất phát từkhía cạnh phân tích văn bản, trong một hệ thống văn bản tự sự, có những cấp bậc khácnhau và tương quan với nhau như cơ tầng đặc trưng ngôn ngữ, hiệu quả tâm lý do cơtầng ngôn ngữ đó gây nên, ý nghĩa chủ đề hoặc hiệu quả mỹ học được thể hiện bởi đặctrưng ngôn ngữ của một ngữ cảnh nhất định mà cầu nối của chúng là hiệu quả tâm xuất phát từ khía cạnh Trần thuật học, một hệ thống văn bản tự sự được tạo dựngbởi các cấp bậc như cấp bậc câu chuyện và cấp bậc trần thuật, tức các hình thức ngônngữ nhằm xâu chuỗi lên một văn bản tự sự. Trên cấp bậc trần thuật, lại bao hàm các yếutố như người trần thuật, điểm nhìn, thời gian vân Định nghĩa của "ngôn ngữ trần thuật"Tổng quan các quan điểm về Ngôn ngữ trần thuật được nêu ở trên, điều cần lưu ýnhất là Ngôn ngữ trần thuật chỉ được để cập một cách rải rác, rời rạc, trực tiếp hoặc giántiếp, qua nhiều yếu tố, từ nhiều khía cạnh, bằng nhiều thuật ngữ khác nhau. Vậy, có thểnói, Ngôn ngữ trần thuật là một tập hợp thể của những yếu tố liên quan. Dù thế nào đinữa, các nhà nghiên cứu đã tập trung, đi thẳng cũng như đi sâu vào vấn đề "ai kể - kể cáigì - kể như thế nào" những yếu tố chủ chốt xâu chuỗi nên một văn bản tự sự dưới hìnhthức ngôn đề tài nghiên cứu này, đối tượng nghiên cứu của chúng tôi một là nằm trongdiện cơ tầng đặc trưng ngôn ngữ, hai là nằm trong diện cấp bậc trần thuật. Hai thứ đó có
Tạp chí Nghiên cứu Văn học số 5/2008 Bi kịch hóa trần thuật - Một phương thức tự sự Trên cứ liệu "Cánh đồng bất tận" của Nguyễn Ngọc Tư TS. Nguyễn Thanh Tú Văn nghệ quân đội Văn xuôi Việt Nam thời gian gần đây thiên về tìm tòi đổi mới cách kể. Hứng thú của các nhà văn cũng như các nhà nghiên cứu phê bình là vấn đề cách kể như thế nào hơn là vấn đề kể cái gì. Đây cũng là điều hợp quy luật, nó đẩy cách sáng tạo, cách hiểu, cách tiếp nhận về gần hơn với đặc trưng thẩm mỹ của văn học. Một trong những cách kể được nhiều người quan tâm và đã có những vận dụng thành công nhất định là bi kịch hoá trần thuật. Ở bài viết này chúng tôi xin đi tìm hiểu cách kể này dựa trên cứ liệu hai tác phẩm được giải thưởng Hội Nhà văn Cánh đồng bất tận của Nguyễn Ngọc Tư Giải thưởng năm 2006 và Và khi tro bụi của Đoàn Minh Phượng Giải thưởng năm 2007. Lý thuyết tự sự trước nay ghi nhận hai hình thức trần thuật cơ bản trần thuật ở ngôi thứ ba khách quan hoá và trần thuật ở ngôi thứ nhất chủ quan hoá. Cách phân biệt này mới chỉ dừng ở hình thức bề ngoài chứ chưa đi sâu vào phương thức tự sự bên trong. Điều này cũng chứng tỏ người ta chưa xem người kể đứng gần hay xa các sự kiện, nhân vật trong truyện một cách cụ thể. Chúng tôi đặt vấn đề bi kịch hoá trần thuật, cụ thể hơn là bi kịch hoá nhân vật người kể chuyện để tìm hiểu sâu hơn một bước cụ thể hoá hình thức trần thuật ở ngôi thứ nhất. Theo chúng tôi khi người kể được nhân vật hoá sẽ thoả mãn hai chức năng chức năng miêu tả hoàn cảnh, không gian, thời gian, các biến cố sự kiện và chức năng phát hiện ra thế giới bên trong của nhân vật người kể chuyện. Người kể không chỉ kể mà còn đóng vai là một nhân vật, do vậy tất yếu phải biểu hiện những quan niệm, suy nghĩ, tình cảm với ngôn ngữ, giọng điệu của một con người cụ thể. Vì thế câu chuyện không chỉ lôi cuốn sự chú ý của người đọc theo dòng các sự kiện mà còn lôi cuốn người đọc vào cả lời kể, cách kể. Nhờ thế đã tạo ra hai hiệu quả tạo ra ảo giác ở độc giả về tính khách quan của nội dung câu chuyện và thể hiện đậm nét dấu ấn chủ quan của người kể chuyện. Điều này đã được hai nhà văn Nguyễn Ngọc Tư và Đoàn Minh Phượng vận dụng khá thành công trong tác phẩm của mình. 1. Bi kịch hoá tình huống Chúng ta đều cho rằng để tạo ra được một truyện hay người viết phải sáng tạo ra được một tình huống hấp dẫn. Ở cả hai truyện Cánh đồng bất tận và Và khi tro bụi đều tạo ra một tình huống bi kịch. Ở Cánh đồng bất tận là bi kịch gia đình tan vỡ bắt đầu từ chuyện ngoại tình của người mẹ. Hận đời, hận tình người cha phóng lửa đốt nhà rồi đưa hai con lênh đênh trên chiếc thuyền nhỏ làm nghề chăn vịt, nay đây mai đó kiếm sống. Ở Và khi tro bụi là bi kịch của một người vợ có người chồng chết "bất đắc kỳ tử" vì tai nạn giao thông. Không chịu nổi nỗi đau, nỗi cô đơn, người vợ cũng đi tìm cái chết bằng cách lên một chuyến xe lửa định đến một nơi bất kỳ và sẽ tự vẫn trên cuộc hành trình bằng cách uống thuốc ngủ. Những tình huống này không mới. Chúng đều là những tình huống bi kịch mang tính giải thoát. Người cha đưa hai con lên một chiếc thuyền cũng là một cách giải thoát khỏi bi kịch gia đình bị tan vỡ, bi kịch bị phản bội. Hành động phóng lửa đốt nhà của người cha Cánh đồng bất tận, hành động rũ bỏ không thương tiếc nhà cửa, của cải, kỉ niệm của người vợ Và khi tro bụi là những hành động cự tuyệt tuyệt đối với hiện tại. Đó là những hành động tiêu cực. Xét dưới góc độ cấu trúc thể loại, những tình huống này tăng cường tính bi kịch cho câu chuyện, lôi cuốn sự chú ý dõi theo những sự kiện tiếp theo. Không ngẫu nhiên, hai tác giả đều để cho nhân vật của mình “giải thoát” bằng cách di chuyển trong một không gian vô định. "Cánh đồng" có thể là không gian xác định nhưng "cánh đồng bất tận" lại là không xác định, không giới hạn, không phương hướng. Xét dưới góc độ ý nghĩa, nó khơi gợi lòng cảm thương, xót xa cho số phận con người, nhất là đối với người phụ nữ bơ vơ "tứ cố vô thân" nơi đất khách Và khi tro bụi, với trẻ em nghèo không được sự chăm sóc đầy đủ của cha mẹ Cánh đồng bất tận. 2. Bi kịch hoá không - thời gian Chọn người kể chuyện là một cô gái mới lớn Nương thất học chưa từng trải còn ngỡ ngàng trước những sóng gió va đập của cuộc đời, hồn nhiên kể lại chuyện của gia đình mình và của chính mình đã góp phần tạo ra một đặc điểm dễ thấy ở Cánh đồng bất tận là sự hồn nhiên. Chính điều này đã nói rõ mặt mạnh, mặt yếu mà chúng tôi sẽ bàn dưới đây ở cây bút trẻ tài năng Nguyễn Ngọc Tư thể hiện trong một truyện vừa gây xôn xao văn đàn, người khen rất nhiều, người chê cũng không ít. Mô hình kết cấu của Cánh đồng bất tận ảnh hưởng rõ kết cấu trong Chí Phèo của Nam Cao, nghĩa là điểm nhìn trần thuật được di chuyển trên trục thời gian bắt đầu từ một thời điểm hiện tại rồi ngược về quá khứ sau đó lại tiếp tục ở thời tương lai. Mở đầu là cảnh một cô gái điếm bị đám đông đánh đập sau đó ngược về quá khứ nói về nguyên nhân gây tan vỡ gia đình rồi lại kể tiếp những chuyện trả hận đàn bà của người cha và cảnh người con gái Nương bị cưỡng hiếp trên cánh đồng. Câu chuyện được mở đầu nói về một hiện tượng xã hội nhức nhối tệ nạn gái điếm đã gây sự chú ý theo dõi ở người đọc đây là câu chuyện về sex, về bạo lực hay về số phận một con người đầy bi kịch nào đó… Rồi người kể cứ lái dần câu chuyện vào nội dung chính bằng cách để cho người kể kể lại chuyện của gia đình "tôi" và của chính "tôi", bằng cách kể này đã tạo ra ở truyện một hiệu quả nghệ thuật lưỡng tính. Một là, câu chuyện hồn nhiên như cuộc đời vậy, "tôi" là một cô gái quê mùa chân chất, mộc mạc cứ thật thà kể, hồn nhiên kể, vì thế mà người đọc hầu như không thấy dấu vết của sự hư cấu. Hai là, thời điểm xảy ra câu chuyện và thời điểm kể rất gần nhau nên tính thời sự của câu chuyện còn tươi nguyên, nóng hổi như là câu chuyện của ngày hôm nay vậy. Mà đã có tính thời sự, thì bao giờ cũng mang một độ nhạy cảm chính trị nhất định, nếu cứ hồn nhiên kể, thậm chí quá đà sẽ gây ra một hiệu ứng tức thời ở bạn đọc. Thí dụ chuyện dịch cúm gia cầm là chuyện nhạy cảm, nhà văn lại khoét sâu vào chuyện này thì thật không cần thiết. Có chi tiết phản hiện thực như nhà văn để cho người nuôi vịt tự vẫn vì đàn vịt của mình bị tiêu huỷ. Trên thực tế việc chính quyền ra lệnh phải ngăn chặn nạn dịch là đúng và bao giờ cũng có một sự đền bù, tất nhiên không thể thoả đáng nhưng không đến nỗi đẩy người lao động vào bước đường cùng mất hết gia sản, đến mức phải tự tử. Điều này tạo ra sự phản ứng của một bộ phận bạn đọc là có lý của họ. Một kinh nghiệm rút ra, trong sáng tạo nghệ thuật sự hồn nhiên là rất quý nhưng nhà văn không thể ngây thơ về thời cuộc, ngoài tài năng, tâm huyết nhà văn còn phải luôn trau dồi vốn chính trị, nếu không sẽ dễ bị hiểu lầm hoặc sẽ bị kẻ xấu lợi dụng để bịa đặt, tuyên truyền gây ảnh hưởng không tốt đến dư luận bạn đọc. Một đặc điểm trong cấu trúc nhân vật ở Cánh đồng bất tận là nhân vật không hề tĩnh tại mà luôn vận động. Ba cha con Nương làm nghề chăn vịt nên phải lênh đênh sông nước nay đây mai đó, chỗ nào vịt có thức ăn thì đến, rồi lại phải tiếp tục ra đi. Rõ ràng nhân vật đã bị đẩy vào một tình huống mâu thuẫn càng tiếp xúc đến mức tối đa không gian vật lý thì lại càng hạn chế đến mức tối thiểu không gian tâm thức vì ít được tiếp xúc với cộng đồng. Nhân vật dường như chỉ sống với chính mình và độc giả bị kéo vào câu chuyện đi theo bước chân nhân vật để tìm hiểu cảnh đất trời sông nước miền cực nam Nam Bộ, nhưng chủ yếu là đi theo dòng hồi tưởng miên man của nhân vật. Vì người kể chuyện và nhân vật là một nên truyện vẫn chỉ có một điểm nhìn. Cách kể truyền thống thường chỉ sử dụng một điểm nhìn dẫn đến lời văn một giọng đơn điệu. Nguyễn Ngọc Tư đã vượt qua thách thức của cách kể chuyện truyền thống, vẫn một điểm nhìn nhưng là điểm nhìn của "tôi" - ngôi thứ nhất, điểm nhìn này luôn di chuyển trên trục thời gian gấp khúc hiện tại - quá khứ - tương lai soi chiếu trên một toạ độ không gian rộng nên đã tạo ra ở lời văn mang tính chất nhiều giọng, lời văn hồn nhiên, tươi non mà nhiều cảm xúc. “Tôi” trong Và khi tro bụi hành trình trên chuyến xe lửa để tìm cái chết thì ngẫu nhiên được đọc những dòng nhật ký trong một quyển sổ ghi chép của một chàng trai trực đêm ở khách sạn. Lại là một cái chết oan uổng khác một người chồng giết vợ, đứa con 5 tuổi nhìn thấy, sợ quá mà bỏ trốn vào rừng. Người anh Michael lớn lên cùng một ý chí mãnh liệt tìm em Marcus và trả thù cho mẹ Anita. “Tôi” AnMi từ bỏ ý nghĩ tự vẫn mà tự nguyện dấn mình truy tìm cho ra người em Marcus và làm rõ nguyên nhân cái chết của người mẹ Anita. Câu chuyện bắt đầu hấp dẫn trước hết bởi cái chất “điều tra hình sự” của nó. Tiểu thuyết cứ tạm gọi trước như vậy có kết cấu truyện nọ lồng trong truyện kia với năm sáu lớp truyện mà “tôi” vừa là người kể chuyện vừa là nhân vật cứ bước hết từ lớp truyện này sang lớp truyện khác cho đến khi “vụ án” được làm sáng tỏ. “Vụ án” kết thúc không trùng với kết thúc của tiểu thuyết mà lại tạo ra một kết thúc bất ngờ khác cho chính “tôi”. Tính chất “ly kì” của câu chuyện điều tra thể hiện ở những sự bất ngờ từ các nhân vật với các mối quan hệ mới, các lời phủ định hay tự thú. Chàng trai Michael phủ nhận nội dung nhật ký của chính mình. Ông bố Kempt tự thú đã giết vợ. Đứa em Marcus bị mất trí nhớ. Cô giáo Sophie có thể coi là một nhân chứng trong vụ án có những lời ngụy biện che giấu sự thật bằng cách phân tích tâm lý trẻ em rất có sức thuyết phục. Sophie là tình nhân của người cha Kempt rồi trở thành nhân tình của người con trai Michael. Tập sách chỉ dày 185 trang không đề tên thể loại. Có lẽ ý định của tác giả là để cho bạn đọc tuỳ coi đó là truyện vừa hay tiểu thuyết. Theo tôi tập sách có một cách kể rất tiểu thuyết thể hiện ở sự pha trộn nhiều dạng tiểu thuyết tiểu thuyết đời tư, tiểu thuyết tâm lý; tiểu thuyết hình sự, kết hợp nhiều cách kể dòng ý thức, đồng hiện, đảo trật tự thời gian… và tận dụng triệt để hiểu biết của người kể về hội hoạ và âm nhạc, có những trang miêu tả rất hay đạt đến độ tinh tế và sâu sắc hai lĩnh vực nghệ thuật này. Có hai tuyến truyện song hành xuyên qua các lớp truyện lồng nhau là chuyện của “tôi” và chuyện “vụ án”. Chọn điểm nhìn trần thuật là cái “tôi” trong tình trạng cô đơn đến tuyệt vọng đang đi tìm cái chết nên không hề sợ chết mà do vậy cứ “dấn thân” điều tra các chứng cứ, truy tìm các tình tiết rối rắm phức tạp của “vụ án”. Sự “dấn thân” này còn cắt nghĩa ở sự đồng cảm giữa “tôi” và nhân vật, nhất là với nhân vật Marcus. Nếu “tôi” nhìn thấy cảnh mẹ bị chết bom thì Marcus chứng kiến cảnh mẹ bị giết. “Tôi” và Marcus cùng có một tuổi thơ trong trại mồ côi. Đây là cách chọn điểm nhìn tối ưu. Điểm nhìn này lại luôn được di động trên hai trục không gian với các cảnh sống, phong tục, con người ở Đức và quê hương sinh ra “tôi”; trên hai trục thời gian quá khứ và hiện tại của “tôi” và của các nhân vật, đã tạo ra sự đa dạng về bức tranh văn hoá đa sắc màu được thể hiện trong tác phẩm. 3. Bi kịch hoá hoàn cảnh, tâm lý, tính cách nhân vật Nếu coi Cánh đồng bất tận mang một chủ đề báo ứng như có người đã hiểu thì câu chuyện chỉ là chuyện của một vài người, của một vài đời người. Có lẽ cao hơn thế nữa, lấy chủ đề báo ứng làm điểm tựa, câu chuyện hướng về mọi người, trở thành chuyện của nhiều người, của xã hội. Theo tôi truyện đặt ra một vấn đề xã hội mang tính khẩn thiết về thân phận người phụ nữ nghèo trong xã hội hôm nay. Đó là những kiếp người mòn mỏi sống tù túng nghèo nàn, không yêu thương, không hi vọng, sống cùng tiếng thở dài buồn não ruột “Má tôi thở dài khi nghe cha ghé bến… Má tôi thở dài khi tắm… Mỗi lần ghe vải ghé trước bến, má cũng thở dài, tay bối rối nắm vào hai túi áo mỏng lẹp kép. Thở dài cả khi thằng Điền bảo cho con xin tiền mua kẹo...”. Đó là những kiếp người phải sống ở vùng khí hậu khắc nghiệt đến mức ước sao trước lúc chết “được tắm một bữa đã đời”. Đó là những phụ nữ quê mùa lam lũ bị những ông chồng vũ phu hành hạ coi như là con ở, là nô lệ tình dục. Đó là thân phận hèn hạ của những cô gái điếm. Đặc biệt là thân phận trẻ em nữ như Nương nhân vật - người kể chuyện, vì chuyện người lớn mà phải hứng chịu bao nỗi khổ đau vất vả, phải làm người lớn quá sớm. Ý nghĩa phổ quát toát ra từ những hiện tượng này lên tiếng kêu gọi toàn xã hội phải quan tâm hơn nữa, phải có những hành động thiết thực, cụ thể hơn nữa để giúp đỡ những mảnh đời vất vả khổ sở ấy. Trong khi đó chính những mảnh đời khốn khổ ấy trong sâu thẳm tâm hồn lại mang một vẻ đẹp nhân hậu thiết tha, yêu say đắm, yêu hết mình, quên mình và luôn ý thức về phẩm hạnh người phụ nữ. Như cô gái điếm kia vì kiếm sống mà phải bán thân nhưng vẫn ý thức được giá trị của con người, khi bị thiên hạ đánh cũng biết ngậm ngùi “Ăn trên mồ hôi nước mắt của người ta nên lâu lâu bị đánh cũng đáng đời…”. Nhân vật - người kể chuyện phải hứng chịu tội lỗi của người lớn, bị cưỡng hiếp nhưng vẫn không hận đời, hận tình như người lớn mà trái lại đầy niềm tin “Đứa bé đó, nhất định nó sẽ tên là Thương, là Nhớ, là Dịu, Xuyến, Hường… Đứa bé không cha nhưng chắc chắn được đến trường, sẽ tươi tỉnh và vui vẻ sống đến hết đời, vì được mẹ dạy, là trẻ con, đôi khi nên tha thứ lỗi lầm của người lớn”. Đây là những dòng kết của truyện tạo cho truyện một kết cấu mở, gieo vào người đọc một niềm hi vọng con người dù có phải sống trong bi kịch nhưng vẫn ấp ủ một khát khao tin vào lẽ đời, tin vào tình người. Truyện không hề bi quan. Chương 17, trong Và khi tro bụi là chương quan trọng nhất quyết định ý nghĩa chủ đề tiểu thuyết, giả sử cắt chương này thì đây chỉ là một câu chuyện vụ án bình thường. Chương 17 cắt hẳn với mạch chuyện vụ án và nối vào với chuyện của "tôi". "Tôi" đã tìm ra sự thật của vụ án và cực kỳ thất vọng về chàng trai Michael đã phản bội chính mình. "Tôi" lại tiếp tục đi tìm và đã rất gần với cái chết thì ý thức đưa "tôi" về quá khứ cùng một ấn tượng tuổi thơ kinh hoàng khắc sâu trong đáy tim giờ đây sống lại "Tôi" một đứa trẻ bảy tuổi đang ôm xác mẹ thì bỗng nghe tiếng gọi từ đâu đó, tiếng gọi của đứa em gái ba tuổi kêu chị chạy đi. Thế là người chị ấy vùng chạy đi để lại xác mẹ và đứa em ấy đến nay đã 25 năm. Một chủ đề chống chiến tranh, tố cáo chiến tranh toát lên day dứt người đọc. Tại sao hình ảnh này cho đến khi "tôi" "một nửa bước vào cái chết" mới hiện ra? Điều này không khó cắt nghĩa. Một là câu chuyện của "vụ án", nhất là các tình tiết về Marcus một đứa trẻ năm tuổi khi thấy mẹ bị giết sợ quá mà chạy vào rừng trong cái rét dưới âm nhiều độ dẫn đến mất trí nhớ đã ám ảnh tới "tôi" sâu sắc. Như vậy, tuy là hai câu chuyện nhưng lại có mối liên hệ với nhau rất chặt như mạch chìm của tiểu thuyết. Mạch chìm ấy là tình thương, là sự đồng cảm của hai bi kịch, hai số phận dù trong những tình cảnh khác nhau. Hai là, khi gần cái chết người ta thường nghĩ về nơi sinh ra, dĩ nhiên là suy nghĩ ấy thường neo lại nơi những ấn tượng không bao giờ quên, nhất là ấn tượng tuổi thơ. "Lá rụng về cội". Một chủ đề chính của tác phẩm rộng hơn nhiều chủ đề tố cáo chiến tranh, chủ đề chạy trốn sự cô đơn hay bi kịch về sự phản bội chính mình…, đó là chủ đề Quê hương cứu vớt con người. "Tôi" quyết định không chết nữa mà phải sống để quay trở về quê hương tìm lại đứa em ba tuổi ngày trước. Cái kết này ứng với câu thơ của Henry Vaughan được tác giả lấy làm đề từ, nguyên văn tiếng Anh là And when this dust falls to the urn/ In that state I came, return. Có nghĩa là Và khi tro bụi rơi về/ Trong lúc đó tôi sẽ quay trở lại, được tác giả dịch thơ Và khi tro bụi rơi về/ Trong thinh lặng đó, cận kề quê hương. Đây cũng chính là tâm trạng của hàng triệu người Việt xa xứ vì chiến tranh đang mong ngóng từng ngày trở về Đất Mẹ. Tiểu thuyết đã góp một tiếng nói làm xích lại gần hơn những đứa con xa quê xa đất nước. Như vậy, cách kể bi kịch hoá trần thuật đã góp phần làm nên thành công của Cánh đồng bất tận và Và khi tro bụi. Một cách kể mang đậm dấu ấn của "tôi", nhân vật - người kể chuyện. Ứng với cái "tôi" này, lời văn trong Cánh đồng bất tận đầy khẩu ngữ, đậm đà phong vị dân gian Nam bộ chân chất, hồn nhiên. Còn lời văn trong Và khi tro bụi lại hiện đại với lối văn phân tích sắc sảo, không kể lại sự việc mà là phân tích sự việc, không miêu tả trạng thái tâm lý mà là phân tích tâm lý. Phép liên tưởng và trùng điệp được sử dụng rất hiệu quả. Các câu văn cứ nối vào nhau, móc vào nhau để biểu hiện các liên tưởng, các hồi ức của nhân vật cũng là của người kể xưng "tôi". Giả sử đặt hai câu chuyện này sang một ngôi kể khác, cách kể khác, hiển nhiên truyện sẽ có một điểm nhìn khác, các sự kiện sẽ được phản ánh, phân tích dưới một hệ quy chiếu khác, do vậy tác phẩm sẽ có một hình thức khác, một nội dung khác. Trở về trang chủ Nguyễn Ngọc Tư
phương thức trần thuật